2    7    2    8    5    7    
BẢN TIN THÔNG BÁO NỘI BỘ
Số: 213 - 2014
MỤC LỤC
Văn kiện Đảng bộ tỉnh Hưng Yên/ Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lần thứ XVI

Báo cáo của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khoá XV do đồng chí Nguyễn Đình Phách, Phó Bí thư Tỉnh uỷ khoá XV trình bày ngày 19-12-2005

 

Thực hiện Chỉ thị 46 - CT/TW ngày 06 tháng 12 năm 2004 của Bộ Chính trị về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng, Đại hội Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lần thứ XVI có nhiệm vụ đánh giá việc thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV và xây dưng mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ 5 năm 2006-2010 trong chiến lược phát triển đất nước đến năm 2010

I- KIỂM ĐIỂM VIỆC THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI ĐẢNG BỘ TỈNH LẦN THỨ XV

1- Thành tựu và tiến bộ

5 năm qua, trong bối cảnh tỉnh mới tái lập tình hình trong nước và thế giới có nhiều thuận lợi và khó khăn đan xen, tác động trực tiếp đến sự phát triển của tỉnh. Đảng bộ và nhân dân Hưng Yên đã chủ động sáng tạo, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ, khắc phục khó khăn, phát huy mọi nguồn lực, phấn đấu đạt được những thành tựu quan trọng, hoàn thành khá toàn diện mục tiêu Đại hội XV đề ra. Kinh tế tiếp tục tăng trưởng nhanh, hợp tác đầu tư phát triển, văn hoá - xã hội có nhiều tiến bộ, quốc phòng - an ninh được tăng cường, giữ vững ổn định chính trị, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt, dân chủ trong Đảng và nhân dân được mở rộng; thực hiện cải cách hành chính, cải cách tư pháp, đấu tranh chống quan liêu tham nhũng chuyển biến tích cực. Vị thế Hưng Yên được khẳng định và nâng cao, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội những năm tiếp theo.

a - Kinh tế

Nền kinh tế tiếp tục phát triển nhanh, khá toàn diện và vững chắc, GDP năm sau cao hơn năm trước, bình quân tăng 12,28%/năm (mục tiêu Đại hội trên 10%). Cơ cấu kinh tế chuyển dịch nhanh, đến 2005 : Nông nghiệp 30,5% - Công nghiệp, xây dựng 38% - Dịch vụ 31,5% (mục tiêu Đại hội: 34% - 30% - 36%). Thu nhập bình quân đầu người đạt 550 USD (mục tiêu Đại hội trên 500 USD).

-Nông nghiệp kinh tế và nông thôn:

 Nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng thâm canh, sản xuất hàng hoá theo nhu cầu thị trường. Giá trị sản xuất tăng bình quân 5,2%/năm (mục tiêu Đại hội: 4 - 4,5%), trong đó trồng trọt tăng 5,19%, chăn nuôi tăng 9,38%. Cơ cấu chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng giá trị cây lương thực, tăng nhanh giá trị cây công nghiệp, rau quả và chăn nuôi. Đến năm 2005: tỷ lệ cây lương thực 31,3% - cây công nghiệp, rau quả 29,2% - chăn nuôi 39,5%, giữ ổn định lương thực bình quân 480 kg/đầu người/năm, cây vụ đông đạt 38,2% diện tích canh tác (mục tiêu Đại hội 450. Giá trị thu được trên 1 ha canh tác tăng từ 32 triệu đồng năm 2000 lên 39 triệu đồng năm 2005. Mô hình trang trại phát triển nhanh, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng hiệu quả sản xuất nông nghiệp. Đến nay đã có trên 3.000 trang trại, gia trại, trong đó 1.630 đạt tiêu chí liên bộ, có nhiều mô hình sản xuất thu nhập 100 triệu đồng/ha canh tác và 100 triệu đồng/hộ/năm. Diện tích lúa chất lượng cao đạt 39%. Chương trình "nạc hoá" đàn lợn, "suất hoá" đàn bò, nuôi bò sữa, nuôi cá rô phi đơn tính, sản xuất giống lúa, rau quả chất lượng cao có hiệu quả thiết thực.

Các loại hình dịch vụ phát triển đáp ứng được nhu cầu chủ yếu của kinh tế nông nghiệp và nông thôn. Nhiều nghề truyền thống được khôi phục, phát triển và mở thêm nhiều nghề mới, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động, tạo thêm nhiều việc làm, góp phần nâng cao thu nhập cho người lao động ở nông thôn.

Quản lý đất đai theo quy hoạch, kế hoạch và sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả hơn. Chương trình dồn thửa đổi ruộng đạt kết quả tốt, đã giảm bình quân 8 thửa/hộ xuống còn 3,16 thửa/hộ, tạo điều kiện thâm canh nâng cao hiệu quả sử dụng ruộng đất.

- Công nghiệp:

Sản xuất công nghiệp tăng trưởng nhanh, giá là sản xuất tăng bình quân 26,7% /năm (mục tiêu Đại hội trên 20% /năm), hình thành một số ngành sản xuất chủ lực như: điện tử, dệt may, cơ khí và luyện thép... với công nghệ tiên tiến. Sản phẩm công nghiệp ngày càng đa dạng về chủng loại, chất lượng tốt hơn, nhiều sản phẩm có thương hiệu và sức cạnh tranh trên thị trường. Quy hoạch phát triển công nghiệp có tiến bộ, 2 khu công nghiệp được phê duyệt, đang trình duyệt các khu công nghiệp khác và triển khai xây dựng quy hoạch các khu công nghiệp phía Nam tỉnh; quy hoạch 10 khu công nghiệp làng nghề, có 2 khu đang được xây dựng tạo điều kiện cho tiểu thủ công nghiệp phát triển, bảo đảm vệ sinh môi trường. Công tác vận động và thu hút đầu tư đạt kết quả cao, tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu đầu tư, cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động. Đã tiếp nhận 410 dự án đầu tư (trong nước 354, nước ngoài 56), với tổng số vốn đăng ký tương đương 1.223 triệu USD, 160 dự án đi vào hoạt động, giá trị sản xuất tăng hàng ngàn tỷ đồng/năm đóng góp gần 70% số thu ngân sách hàng năm trên địa bàn, tạo việc làm thường xuyên cho trên 4 vạn lao động.

- Thương mại dịch vụ:

Tốc độ tăng trưởng bình quân đạt trên 15,0%/ năm (mục tiêu Đại hội 18%/năm). Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng xã hội tăng bình quân 20,5%/năm. Dịch vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, bưu chính viễn thông ... được mở rộng. Dịch vụ vận tải hàng hoá và hành khách doanh thu tăng bình quân 14%/năm. Dịch vụ bưu chính viễn thông tiếp tục được đầu tư mở rộng đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, đến 2005 đạt 7,5 máy/ dân (mục tiêu 3 máy/100 dân), 100% số xã có bưu cục hoặc điểm bưu điện - văn hoá. Du lịch bước đầu phát triển với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế và sự liên kết với các địa phương lân cận; cơ sở hạ tầng các khu du lịch từng bước được đầu tư nâng cấp.

Xuất khẩu tiếp tục duy trì tốc độ tăng cao, bình quân 41,9%/năm, năm 2005 kim ngạch xuất khẩu đạt 230 triệu USD (mục tiêu Đại hội 90 triệu USD). Giá trị xuất khẩu hàng nông sản, tiểu thủ công nghiệp, dược liệu tăng khá. Các doanh nghiệp đã chủ động củng cố thị trường truyền thống và mở rộng thị trường mới; tích cực đổi mới công nghệ sản xuất nâng cao chất lượng, hạ giá thành, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá. Nhập khẩu chủ yếu máy móc thiết bị và nguyên liệu trong nước chưa sản xuất được.

- Đầu tư phát triển :

Tích cực khai thác lợi thế, phát huy nội lực, đặc biệt là khu vực kinh tế ngoài nhà nước. Tổng vốn huy động toàn xã hội trong 5 năm đạt 17.126 tỷ đồng, trong đó nguồn vốn đầu tư từ ngân sách Trung ương chiếm khoảng 10%, ngân sách địa phương 12,3%, các doanh nghiệp ngoài nhà nước 47,8%, dân cư 21,2%, còn lại là các nguồn vốn khác. Thu hút được 04 dự án ODA với tổng số vốn 17,8 triệu USD và 6,2 triệu EUR.

Kết cấu hạ tầng được đầu tư, nâng cấp nhanh, khá đồng bộ góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất, phát huy lợi thế của từng vùng và từng ngành. Hoàn thành trải nhựa 100% đường tỉnh, 80% đường huyện (mục tiêu Đại hội 70%); xây dựng mới và nâng cấp 1024 tuyến đường giao thông nông thôn, 36 cây cầu; cầu Yên Lệnh hoàn thành sớm, đưa vào sử dụng từ tháng 5/2004; quốc lộ 39A hoàn thành năm 2003 đang mở rộng đoạn qua thị xã Hưng Yên. Bổ sung quy hoạch thuỷ lợi, xây mới 19 trạm bơm, kiên cố hoá 250 km kênh mương, tăng tính chủ động và nâng cao hiệu quả tưới tiêu. Cơ sở vật chất giáo dục, y tế được tăng cường, xây mới gần 800 phòng học, nâng tỷ lệ phòng học kiên cố cao tầng bậc mầm non đạt 40,8%, bậc phổ thông đạt 78,5%; đã và đang cải tạo nâng cấp Bệnh viện Đa khoa tỉnh và 9 trung tâm y tế tuyến huyện, xây mới Bệnh viện Lao và bệnh  viện phổi, Bệnh viện Y học cổ truyền, Bệnh viện Đa khoa 2 Phố Nối và Bệnh viện Tâm thần kinh.

   - Tài chính, tín dụng, ngân hàng:

Thu ngân sách vượt kế hoạch giao, năm sau cao hơn nhiều so với năm trước, năm 2005 đạt trên 1.250 tỷ đồng, trong đó thu nội địa chiếm gần 50%. Công tác quản lý thuế được đổi mới, thủ tục hành chính đơn giản, tạo thuận lợi cho sản xuất kinh doanh, tăng tích luỹ nội bộ. Tỷ lệ huy động GDP vào ngân sách năm 2005 đạt 15,3%.

Chi ngân sách bình quân 775 tỷ đồng/năm, trong đó chi cho sự nghiệp giáo dục - đào tạo, y tế năm 2005 tăng gấp 2 lần so với năm 2000. Quản lý tài chính có nhiều tiến bộ, tăng cường phân cấp tăng tính tự chủ đi đôi với nâng cao trách nhiệm quản lý ngân sách của các cấp, giao quyền tự chủ tài chính cho các đơn vị sự nghiệp có thu, khoán biên chế và kinh phí cho các đơn vị hành chính bước đầu đạt kết quả.

Thanh tra, kiểm toán tài chính được tiến hành thường xuyên, tăng cường kiểm soát việc sử dụng tài chính công, chống lãng phí, thực hành tiết kiệm có hiệu quả.

Hoạt động của hệ thống tín dụng, ngân hàng có tiến bộ, đáp ứng tốt hơn nhu cầu vốn cho phát triển kinh tế. Có nhiều ngân hàng lớn mở chi nhánh trên địa bàn, tổng vốn huy động bình quân tăng 40,4%/năm, dư nợ tăng 43,9%/năm, trong đó dư nợ trung và dài hạn 51%/năm.

Hoàn thành chương trình sắp xếp nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước (giai đoạn 1), hầu hết các doanh nghiệp sau chuyển đổi sản xuất kinh doanh bước đầu có hiệu quả. Thành lập Hiệp hội doanh nghiệp Hưng Yên hoạt động có tác dụng thiết thực. Kinh tế lập thể được hỗ trợ và khuyến khích phát triển, nhiều HTX trong nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, tín dụng. . . đứng vững và phát triển trong cơ chế thị trường. Việc làm và thu nhập của người lao động được bao đảm và nâng cao.

b- Văn hoá - xã hội:

- Sự nghiệp giáo dục - đào tạo:

Sự nghiệp giáo dục - đào tạo tiếp tục phát triển, từng bước thực hiện chuẩn hoá, hiện đại hoá và xã hội hoá. Giáo viên phổ thông cơ bản đạt chuẩn, tỷ lệ trên chuẩn tăng. Chất lượng giáo dục được nâng lên, tỷ lệ huy động trẻ em 6 tuổi vào lớp 1 đạt 100% hàng năm, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp các cấp đạt trên 95%; tỷ lệ thi đỗ đại học, cao đẳng và học sinh giỏi đạt giải quốc gia có tiến bộ. Hoàn thành phổ cập trung học cơ sở năm 2001, triển khai tích cực phổ cập bậc trung học phổ thông. Có 82 trường đạt chuẩn quốc gia (tăng 68 trường so với năm 2000). Tiếp tục quy hoạch phát triển giáo dục, thành lập mới 9 trường trung học phổ thông và một số trường trung học chuyên nghiệp, trường và trung tâm dạy nghề công lập và ngoài công lập; có 2 trường được nâng cấp lên đại học, cao đẳng; đa số các xã có trung tâm học tập cộng đồng. Khuyến học được đẩy mạnh, mặt bằng dân trí và chất lượng nguồn nhân lực được nâng lên. Công tác dạy nghề được phát triển và mở rộng theo hướng xã hội hóa, cùng với các trường và trung tâm dạy nghề công lập, đã có nhiều cơ sở dạy nghề ngoài công lập…5 năm qua đã dạy nghề cho 27,2 ngàn người, tỷ lệ lao động qua đào tạo năm 2005 đạt 33% (đạt mục tiêu Đại hội).

 - Sự nghiệp khoa học - công nghệ và môi trường:

Hoạt động nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng khoa học - công nghệ thu được một số kết quả; đã thực hiện 16 dự án và 36 đề tài khoa học, góp phần phát triển kinh tế - xã hội, ứng dụng thành công công nghệ mới vào sản xuất một số cây, con giống đạt chất lượng tốt; hỗ trợ chuyển giao và ứng dụng các kỹ thuật tiến bộ vào sản xuất, chế biến, bảo quản, phát triển cây ăn quả đặc sản và rau mầu có giá trị kinh tế cao. Hướng dẫn và hỗ trợ các doanh nghiệp đăng ký áp dụng hệ thống quản lý chất lượng sản phẩm hàng hóa theo tiêu chuẩn nhà nước quy định. Thường xuyên kiểm định các phương tiện đo lường, phát hiện và xử lý kịp thời những sai phạm.

Việc bảo vệ môi trường được các cấp, các ngành chú ý hơn, nhất là các khu công nghiệp và đô thị, có kế hoạch cụ thể xây dựng các công trình xử lý nước thải, rác thải tập trung. Đưa vào hoạt động nhiều tổ, đội vệ sinh môi trường ở thôn xóm có hiệu quả.

- Sự nghiệp y tế, dân số gia đình trẻ em:

 Cơ sở y tế các tuyến được đầu tư cải tạo và tăng cường trang thiết bị phục vụ khám chữa bệnh; coi trọng chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân dân, tích cực phòng chống các bệnh xã hội, xoá mù loà do đục thuỷ tinh thể cho đối tượng chính sách và người nghèo, giảm tỷ lệ bệnh nhân phải chuyển tuyến trên bình quân 2%/năm. Chủ động phòng ngừa, ngăn chặn các dịch bệnh không để gây hậu quả nghiêm trọng, tiêm chủng mở rộng cho trẻ em đạt kết quả cao. Việc đào tạo, bồi dưỡng nâng cao tay nghề và y đức của đội ngũ thầy thuốc được quan tâm. Khám và chữa bệnh cho người có bảo hiểm y tế được bảo đảm, 100% trạm xá xã có bác sỹ, 40% số xã đạt chuẩn quốc gia về y tế. Quản lý nhà nước về hành nghề y dược tư nhân được tăng cường.

Công tác dân số, gia đình và trẻ em được quan tâm, đã thực hiện các mô hình lồng ghép dân số với phát triển gia đình bền vững, có sự phối hợp của nhiều ngành, đoàn thể. Từ năm 2000 đến 2005 giảm tỷ suất sinh từ 17,03% xuống còn 15,12%, giảm tỷ lệ phát triển dân số từ 1,2% xuống dưới 1% giảm tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng từ 36% xuống còn 24%. Tăng cường các hoạt động trợ giúp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, dạy nghề tạo điều kiện để các em hoà nhập với cộng đồng.

- Sự nghiệp văn hoá, thông tin, tuyên truyền và thể dục thể thao:

Các hoạt động văn hoá, thông tin, tuyên truyền đã bám sát các nhiệm vụ chính trị; tập trung tuyên truyền phổ biến chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước và những nhiệm vụ cụ thể của địa phương. Phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá", xây dựng nếp sống văn minh được duy trì có tiến bộ rõ nét, đến năm 2005 có 57% số làng, khu phố văn hoá (mục tiêu Đại hội 50%) và trên 80% gia đình văn hoá. Quản lý tôn tạo các di tích lịch sử văn hoá và cách mạng hiện có, xây mới 6 nhà tưởng niệm danh nhân, nhiều di tích được trùng tu tôn tạo có sự đóng góp tích cực của nhân dân, thể hiện sự trân trọng và tự hào về lịch sử văn hoá, cách mạng của quê hương. Công tác phát thanh truyền hình, báo chí, xuất bản, thông tin cổ động tăng cả về số lượng và chất lượng, thực hiện tốt nhiệm vụ tuyên truyền, giáo dục, định hướng dư luận, cổ vũ các phong trào cách mạng, các gương sáng, đấu tranh chống quan điểm sai trái, cơ hội, phòng chống tội phạm và tai tệ nạn xã hội.

Phong trào thể dục thể thao quần chúng được duy trì và phát triển, xã hội hoá thể dục thể thao bước đầu có tiến bộ; giáo dục thể chất trong trường học được tăng cường và đi vào nề nếp. Chú trọng thể thao thành tích cao, đã giành được huy chương ở giải quốc gia và quốc tế.

- Thực hiện các chính sách hội:

 Kinh tế - xã hội phát triển, đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện, số hộ nghèo giảm từ 8,54% năm 2001 xuống còn 3% năm 2005 (tương đương 13% theo tiêu chí mới). Tháng 4/2005 đã xoá xong nhà tranh tre vách đất cho hộ nghèo. Nhu cầu ăn, ở, đi lại, học hành, chữa bệnh, điện, nước và hưởng thụ văn hoá của nhân dân được đáp ứng tốt hơn, 33 xã khó khăn được hỗ trợ kinh phí xây dựng cơ sở hạ tầng, kết hợp với các chương trình dự án trợ giúp phát triển sản xuất, lao động và việc làm, góp phần giảm dần số xã khó khăn.

 Chăm sóc và thực hiện tốt chính sách với các gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người có công với nước, quyên góp được 11,5 tỷ đồng xây dựng Quỹ "Đền ơn đáp nghĩa" giúp đỡ gia đình chính sách khó khăn, đối tượng bị nhiễm chất độc da cam và góp phần ổn định đời sống các đối tượng bảo trợ xã hội.

Tạo việc làm thường xuyên cho 9 vạn lao động (mục tiêu Đại hội 7,5 vạn) và hàng chục vạn lao động có thêm việc làm mùa vụ. Tích cực chuyển đổi lao động từ nông nghiệp sang sản xuất công nghiệp và dịch vụ. Năm 2005, cơ cấu lao động: Nông nghiệp 65 % - Công nghiệp, xây dựng 16% - Dịch vụ 19% (năm 2000 là: 77,74% - 9,98%- 13.28%). Các hoạt động tôn giáo nhìn chung đúng tôn chỉ, mục đích, chính sách pháp luật, hoạt động truyền đạo trái phép được phát hiện và ngăn chặn kịp thời.

c- Quốc phòng, an ninh tiếp tục được củng cố tăng cường:

Cấp uỷ chính quyền các cấp đảm bảo vai trò lãnh đạo, chỉ đạo đối với lực lượng vũ trang, đã tổ chức quán triệt và thực hiện nghiêm túc các nghị quyết của Trung ương và Bộ Chính trị về chiến lược an ninh quốc gia và chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội. Phát hiện giải quyết kịp thời các vụ việc phức tạp, nhất là ở địa bàn nông thôn, khu công nghiệp và địa bàn giáp gianh nên đã hạn chế diễn biến xấu xảy ra. Đấu tranh ngăn chặn có hiệu quả các hoạt động chống phá của các thế lực thù địch và tội phạm; kiềm chế tai nạn, tệ nạn xã hội; đảm bảo an ninh chính trị, kinh tế và văn hoá - tư tưởng. Phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc được duy trì, có nhiều nét mới tích cực.

Thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân được tăng cường; coi trọng công tác bồi dưỡng, trang bị kiến thức quốc phòng cho cán bộ chủ chốt các cấp, các ngành và huấn luyện dân quân tự vệ và lực lượng dự bị động viên; chất lượng tổng hợp của lực lượng vũ trang tỉnh được nâng lên. Công tác trực sẵn sàng chiến đấu được duy trì thường xuyên. Khu vực phòng thủ tỉnh và các huyện, thị xã được xây dựng toàn diện và tương đối vững chắc. Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tuyển quân hàng năm, lực lượng vũ trang tham gia có hiệu quả công tác phòng chống lụt bão.

 d- Xây dựng chính quyền, phát huy  vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân:

 Bộ máy chính quyền các cấp được kiện toàn theo hướng tinh giản và nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong quản lý, điều hành. Hội đồng nhân dân đổi mới phương pháp và nội dung tiếp xúc cử tri, nâng cao chất lượng các kỳ họp, bước đầu thực hiện có kết quả chức năng giám sát hoạt động của các cơ quan Nhà nước. Tại các kỳ họp chất lượng chất vấn và trả lời chất vấn được nâng lên. Uỷ ban nhân dân các cấp thể chế hoá các chỉ thị, nghị quyết của cấp uỷ đảng, của HĐND và chỉ đạo, điều hành thực hiện có kết quả. Từ năm 2004, triển khai thực hiện cơ chế một cửa, bước đầu đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính.

Việc ban hành và chỉ đạo thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật khá chặt chẽ, có hiệu lực trong quản lý xã hội.Tiến hành cải cách tư pháp ,điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ của ngành Kiểm sát tăng cường vai trò, trách nhiệm của Toà án cấp huyện được thực hiện nghiêm túc. Chú trọng giáo dục ý thức chấp hành pháp luật trong nhân dân. Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể có nhiều cố gắng trong đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động; phát động nhiều phong trào quần chúng có kết quả góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV. Đã tích cực vận động đoàn viên, hội viên, các tầng lớp nhân dân thực hiện tốt đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; đóng góp tích cực vào thành công cuộc bầu cử Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp. Tham gia giám sát hoạt động của các cơ quan Nhà nước và phản ánh ý kiến của nhân dân với các cấp uỷ đảng, cơ quan Nhà nước ở địa phương, góp phần duy trì thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân.

e- Công tác xây dựng Đảng và cuộc vận động xây dựng chỉnh đốn Đảng:

Đã tập trung lãnh đạo thực hiện tốt công tác chính trị, tư tưởng, làm cho cán bộ, đảng viên nhận thức rõ hơn về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, nội dung và nhiệm vụ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiên đại hoá ở địa phương, tạo sư thống nhất trong Đảng bộ và đồng thuận trong xã hội. Việc nghiên cứu, quán triệt Nghị quyết Đại hội IX, các nghị quyết, kết luận hội nghị Trung ương nghị quyết Tỉnh uỷ được các cấp uỷ tiến hành nghiêm túc, gắn với xây dựng chương trình hành động có nội dung cụ thể sát thực. Việc học tập và làm theo tư tưởng Hồ Chí thành có chuyển biến rõ nét trong đảng viên cán bộ và nhân dân.

         Các hoạt động thông tin, tuyên truyền nội bộ và đại chúng được duy trì đều đặn, chất lượng được nâng lên. Đội ngũ báo cáo viên các cấp được kiện toàn và hoạt động tích cực. Tài liệu tuyên truyền, bản tin thông báo nội bộ. Báo Hưng Yên và Báo Hưng Yên điện tử phát hành đưa tin đều đặn tăng thời lượng thông tin và số lượng phát hành.

Công tác giáo dục truyền thống được chú trong, kỷ niệm các ngày lễ lớn được tổ chức với nhiều hoạt động phong phú, có tác dụng giáo dục tốt việc biên soạn, xuất bản, phát hành Lịch sử Đảng bộ địa phương, lịch sử ngành, đoàn thể được các cấp uỷ quan tâm. Đến nay, đã xuất bản lịch sử Đảng bộ tỉnh tập 2 giai đoạn 1954 - 1975 9/10 huyện, thi, 50/161 xã, phường, thị trấn xuất bản Lịch sử Đảng bộ giai đoạn 1930 - 1954 một số đến 1975...

Tiếp tục thực hiện cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) khoá VIII. Công tác tự phê bình và phê bình, việc quản lý, nhận xét, đánh giá, lấy ý kiến nhận xét của tổ chức đảng và góp ý của nhân dân ở nơi cư trú đối với cán bộ, đảng viên được thực hiện thường xuyên, nghiêm túc; tiếp nhận và giải quyết cơ bản khiếu nại, tố cáo của công dân, xử lý nghiêm cán bộ sai phạm, lòng tin của nhân dân với Đảng được tăng cường.

Phong trào thi đua xây dựng cơ sở đảng trong sạch vững mạnh được duy trì, hàng năm có từ 70 - 80% cơ sở đảng đạt trong sạch vững mạnh, số cơ sở yếu kém giảm dần. Chất lượng đảng viên được nâng lên, hàng năm tỷ lệ hoàn thành tốt nhiệm vụ đạt từ 60 - 70%, vi phạm tư cách giảm còn dưới 1 %, phát triển đảng viên mới bảo đảm chất lượng, tăng tỷ lệ là nông dân, công nhân, trí thức, đảng viên trẻ và nữ, trung bình hàng năm kết nạp trên 1.500 đảng viên. Việc đổi và phát thẻ đảng viên thực hiện đúng hướng dẫn của Trung ương. Công tác bảo vệ chính trị nội bộ được coi trọng, giải quyết chế độ cho cán bộ đúng chính sách. Việc đào tạo bồi dưỡng lý luận chính trị, nghiệp vụ cho cán bộ, đảng viên được quan tâm và đạt kết quả tốt. 5 năm qua, đã cử 266 cán bộ học đại học và cao cấp lý luận chính trị, mở 38 lớp cho 3215 học viên trung cấp lý luận chính trị; bồi dưỡng lý luận chính trị và nghiệp vụ công tác Đảng chính quyền, đoàn thể cho 73.768 lượt cán bộ cơ sở.

Công tác cán bộ và quản lý cán bộ được đổi mới về nội dung và phương pháp. Các cấp uỷ coi trọng việc quy hoạch và tạo nguồn cán bộ, đặc biệt là cán bộ trẻ, cán bộ nữ, trên cơ sở đó có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng, luân chuyển phù hợp yêu cầu và khả năng của cán bộ. Kết quả đội ngũ cán bộ có bước trưởng thành về nhận thức và năng lực hoạt động thực tiễn.

Việc đánh giá, đề bạt, bổ nhiệm, khen thưởng kỷ luật cán bộ, đảng viên đúng quy trình, nguyên tắc dân chủ và công khai. Trong nhiệm kỳ XV, đã bổ sung 5 Tỉnh uỷ viên; đề bạt và bổ nhiệm 89 cán bộ lãnh đạo sở, ban, ngành tỉnh; chỉ định và chuẩn y kết quả bầu bí thư, phó bí thư huyện, thị uỷ và tương đương. Tặng 34 cờ và 562 bằng khen cho tập thể và cá nhân cán bộ, đảng viên có thành tích xuất sắc.

Công tác kiểm tra của Đảng được các cấp uỷ tập trung lãnh đạo, chỉ đạo và chủ động xây dựng chương trình, kế hoạch thực hiện. Uỷ ban Kiểm tra các cấp được kiện toàn, uỷ ban kiểm tra cơ sở được tăng cường và quan tâm về chế độ chính sách, chất lượng hoạt động được nâng lên. Trong nhiệm kỳ, các cấp uỷ kiểm tra 5.282 lượt tổ chức đảng và 5.297 lượt đảng viên; Uỷ ban Kiểm tra các cấp kiểm tra 439 tổ chức đảng và 1.979 đảng viên có dấu hiệu vi phạm. Tiếp nhận và giải quyết 524 đơn tố cáo tổ chức đảng và đảng viên. Xử lý kỷ luật 19 tổ chức đảng, 1.055 đảng viên vi phạm, trong đó có 379 cấp uỷ viên do cán bộ thuộc diện Tỉnh Uỷ quản lý). Khai trừ khỏi Đảng 120 đảng viên, có 419 đảng viên bị xóa tên hoặc cho rút, tổng số đảng viên bị đưa ra khỏi Đảng là 539, trong đó có 43 đảng viên bị xử lý bằng pháp luật. Công tác kiểm tra, thi hành kỷ luật của Đảng đã góp phần tích cực giáo dục cán bộ, đảng viên, ngăn ngừa vi phạm, chống quan liêu, tham nhũng, tiêu cực, giữ gìn sự trong sạch trong Đảng, ổn định tình hình cơ sở, củng cố lòng tin của quần chúng.

Công tác dân vận có bước chuyển biến rõ nét cả về nhận thức và hoạt động; kiện toàn Ban Dân vận các cấp; quan hệ giữa Đảng với dân được củng cố gắn bó hơn; nhiều phong trào thi đua và các cuộc vận động xã hội được đông đảo quần chúng hưởng ứng tích cực thu được kết quả cao.

2- Những khuyết điểm và hạn chế.

- Về kinh tế . Tốc độ tăng trưởng nhanh, nhưng chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế, chưa đồng đều trên các lĩnh vực; giá thành và chi phí trung gian còn cao; chuyển dịch cơ cấu trong nông nghiệp chưa đáp ứng yêu cầu tăng trưởng kinh tế, giá trị gia tăng thấp. Một số lĩnh vực chưa đạt chỉ tiêu như: diện tích cây vụ đông, kiên cố kênh mương, tăng trưởng dịch vụ . . . Xây dựng và điều chỉnh bổ sung quy hoạch chưa kịp thời, quản lý thực hiện chưa đồng bộ, có mặt thiếu chặt chẽ, nhất là quy hoạch công nghiệp, giao thông, thuỷ lợi, qui hoạch nông thôn mới.

Thu ngân sách tăng nhanh nhưng thu nội địa chưa tương xứng, tiết kiệm chi để đầu tư phát triển chưa nhiều. Đầu tư xây dựng cơ bản còn dàn trải, manh mún, một số công trình thi công không đúng kế hoạch thời gian hoặc hiệu quả thấp; chưa quan tâm đúng mức phát triển kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội và giải quyết các vấn đề xã hội bức xúc.

-Về văn hóa-xã hội: Một số nghị quyết, chủ trương về văn hoá - xã hội cụ thể hoá chậm. Chất lượng giáo dục chưa đáp ứng yêu cầu; đào tạo nghề chưa theo kịp sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Chất lượng khám, chữa bệnh còn có mặt hạn chế, đầu tư thiết bị kỹ thuật, trình độ chuyên môn và thái độ phục vụ người bệnh của một bộ phận cán bộ, công chức y tế chưa tốt. Đầu tư cho văn hoá chưa tương xứng yêu cầu, chất lượng làng văn hoá, gia đình văn hoá có nơi giảm sút. Thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội chuyển biến chậm. Công tác bảo vệ môi trường nhiều nơi chưa quan tâm đúng mức, có nơi bị ô nhiễm kéo dài. Một số vấn đề xã hội bức xúc như cờ bạc, nghiện ma túy tai nạn giao thông chưa được đẩy lùi.

- Về quốc phòng, an ninh: nhận thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên về nhiệm vụ quốc phòng, an ninh chưa đầy đủ. Một số nơi giải quyết thắc mắc, kiến nghị của nhân dân còn chậm, còn biểu hiện đùn đẩy né tránh, dẫn đến khiếu kiện vượt cấp, có trường hợp kéo dài; phối kết hợp các lực lượng, các ngành, đoàn thể trong giải quyết một số vụ việc chưa đồng bộ, còn bị động, lúng túng chất lượng tổng hợp của lực lượng vũ trang còn hạn chế.

- Về xây dựng chính quyền, đoàn thể: tổ chức và hoạt động của bộ máy chính quyền còn một số mặt chưa đồng bộ, kém hiệu lực nhất là ở cơ sở; cải cách hành chính chậm, ít kiểm tra giám sát ngoài nhà nước còn lúng túng, kết quả chưa cao. Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể hoạt động có mặt còn thụ động, hình thức; xây dựng tổ chức đoàn thể ở các doanh nghiệp ngoài nhà nước còn lúng túng, kết quả chưa cao.

 - Cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng có mặt kết quả còn hạn chế, giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức lối sống ở một số tổ chức đảng chưa được quan tâm đúng mức, nội bộ mất đoàn  kết, vai trò lãnh đạo còn hạn chế. Tự phê bình và  phê bình có nơi làm chưa nghiêm túc, ít tác dụng. Một bộ phận cán bộ, đảng viên giảm sút ý chí chiến đấu, suy thoái đạo đức, phai nhạt lý tưởng, tham nhũng, tiêu cực; luân chuyển cán bộ chưa  nhiều, thời gian ngắn, xử lý cán bộ vi phạm có trường hợp chưa nghiêm. Không ít cơ sở đảng  còn né tránh, đùn đẩy, chưa tập trung lãnh đạo  giải quyết các vấn đề nảy sinh phức tạp tại cơ sở. Xây dựng tổ chức đảng và phát triển đảng viên ở  các doanh nghiệp ngoài nhà nước kết quả thấp.

 3 - Nguyên nhân

a - Nguyên nhân của thành tựu và tiến bộ:

 - Nguyên nhân khách quan: Công cuộc đổi  mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo 20 năm qua đã giành được những thành tựu to lớn, toàn diện, nhất là về kinh tế chính trị và đối ngoại... Tỉnh ta có lợi thế nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, giáp với Thủ đô Hà Nội và gần các thành phố lớn, giao thông thuận tiện, đất đai mầu mỡ và nhiều lợi thế để phát triển kinh tế - xã hội.

- Nguyên nhân chủ quan: Đảng bộ và nhân dân trong tỉnh đoàn kết thống nhất và có quyết tâm cao thực hiện nhiệm vụ chính trị; sự lãnh đạo đúng đắn, sáng lạo của Tỉnh uỷ và các cấp uỷ đảng; sự quản lý, điều hành tích cực, hiệu quả của bộ máy chính quyền và phối hợp tham gia tích cực của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể; sự năng động, sáng tạo của các ngành, các tổ chức kinh tế - xã hội và nhân dân trong cơ chế thị trường. Dân chủ trong Đảng bộ và xã hội được phát huy; các nguồn lực phát triển được khai thác phù hợp; các chủ trương, cơ chế chính sách của Trung ương và địa phương đã từng bước đi vào cuộc sống; quá trình đầu tư của nhiều năm đến nay phát huy hiệu quả.

b - Nguyên nhân của khuyết điểm và hạn chế.

-Nguyên nhân khách quan: Hưng Yên ít tài nguyên, đất hẹp, mật độ dân số cao, hạ tầng kỹ thuật phục vụ phát triển kinh tế - xã hội còn hạn chế chưa đồng bộ. Thời gian từ khi tái lập tỉnh và các huyện đến nay chưa đủ để vượt qua khó khăn về cơ sở vật chất; tích luỹ kinh nghiệm và xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp chưa thật sự tương xứng với yêu cầu.

-Nguyên nhân chủ quan: Đổi mới về nhận thức, năng lực tổ chức và chỉ đạo hoạt động thực tiễn của hệ thống chính trị các cấp còn nhiều hạn chế. Công tác quản lý nhà nước về quy hoạch, xây dựng cơ bản, phòng chống tội phạm, tai tệ nạn xã hội còn yếu; kiểm tra, thanh tra, giám sát thiếu đồng bộ, xử lý vi phạm chưa kiên quyết, kỷ cương ở một số nơi chưa nghiêm. Còn một bộ phận cán bộ kém về phẩm chất, yếu về năng lực chậm được thay thế. Sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân chưa được phát huy đúng mức, các nguồn lực trong nhân dân chưa được huy động cao nhất cho phát triển.

4 - Bài học kinh nghiệm

Một: Đảng bộ quán triệt sâu sắc đường lối, quan điểm, nghị quyết của Đảng, tập trung trí tuệ vận dụng sáng tạo, phù hợp hoàn cảnh điều kiện cụ thể của địa phương, đề ra những chính sách, giải pháp đúng đắn, sát thực tiễn, hợp lòng dân, kiên quyết trong chỉ đạo thực hiện, đưa nghị quyết của Đảng thành hiện thực trong cuộc sống.

Hai: Tăng cường đoàn kết thống nhất trong Đảng bộ và sự đồng thuận trong nhân dân; xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh, mở rộng dân chủ đi liền với giữ nghiêm kỷ cương, kỷ luật. Vận hành có hiệu quả cơ chế "Đảng lãnh đạo, chính quyền quản lý điều hành, nhân dân làm chủ, chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp có phẩm chất và năng lực ngang tầm nhiệm vụ.

Ba: Phát huy các lợi thế, khai thác có hiệu quả các nguồn lực, tập trung đầu tư phát triển theo qui hoạch và kế hoạch; nêu cao tinh thần tự lực, tự cường, nhạy bén với cái mới, năng động trong cơ chế thị trường, đẩy mạnh phát triển kinh tế phải đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội.

II - MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN 5 NĂM (2006-2010)

1-Nhận định tình hình

Những năm tiếp theo của đầu thế kỷ XXI tình hình thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến nhanh, phức tạp và khó lường; các lực lượng hiếu chiến, phản động tiếp tục chống phá Đảng và Nhà nước ta quyết liệt hơn; song hội nhập, hoà bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế chủ đạo.

Những thành tựu của 20 năm đổi mới, nhất là của 5 năm đầu thế kỷ XXI, đã làm cho thế và lực của nước ta lớn mạnh hơn nhiều, hoà bình và ổn định chính trị được giữ vững. Những năm tới, thời cơ và thuận lợi có nhiều, song khó khăn, thách thức không nhỏ, trong đó có mặt trái của cơ chế thị trường, đòi hỏi phải phấn đấu vượt qua. Sau 9 năm tái lập, kinh tế - xã hội tỉnh nhà có bước phát triển nhanh và toàn diện. Đảng bộ và nhân dân phấn khởi, đoàn kết, tin tưởng; các lợi thế đang được khai thác, các nguồn lực đầu tư đang tăng và phát huy hiệu quả; những kiến thức, kinh nghiệm quý báu được đúc kết. Trước yêu cầu phát triển với tốc độ cao của khu vực đồng bằng Bắc Bộ, nhất là các tỉnh trong vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, đòi hỏi Đảng bộ và nhân dân trong tỉnh phải quyết tâm cao hơn, tập trung nguồn lực lớn hơn để tiếp tục đưa Hưng Yên phát triển nhanh và bền vững.

2 - Mục tiêu tổng quát

Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ, năng lực quản lý, hiệu lực điều hành của chính quyền các cấp. Tăng cường vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân. Tiếp tục đổi mới toàn diện, mạnh mẽ và đồng bộ, khai thác tốt lợi thế, huy động mọi nguồn lực, chủ động hội nhập, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đạt mức tăng trưởng kinh tế cao và bền vững. Phát triển nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh, nâng cao đời sống của nhân dân. Phấn đấu đến năm 2010, Hưng Yên trở thành tỉnh khá trong cả nước, tạo cơ sở để trở thành tỉnh công nghiệp phát triển theo hướng hiện đại trước năm 2020.

3- Mục tiêu chủ yếu

1-Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt l3,5%/năm, trong đó: Nông nghiệp tăng 5%nghiệp tăng trên 25%, Dịch vụ tăng 16%.

2- Cơ cấu kinh tế, Nông nghiệp 20% - Công nghiệp, xây dựng 47% - Dịch vụ 33%.

3- Thu nhập bình quân đầu người đạt 18,6 triệu đồng/năm (tương đương 1.200 USD theo tỷ giá năm 2005).

4- Kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân 17%/năm, đạt trên 450 triệu USD.

5- Tổng thu ngân sách trên địa bàn đạt 3.000 tỷ đồng, trong đó thu nội địa từ 1.800 - 2.000 tỷ đồng. Giá tự thu được bình quân trên 1 ha canh tác đạt trên 45 triệu đồng/năm.

6- Tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên giữ mức dưới 1%. Tỷ lệ hộ nghèo còn dưới 3% (theo chuẩn mới); tạo thêm việc làm mới bình quân trên 2,2 vạn lao động/năm; có trên 40% lao động được đào tạo.

7- Hàng năm có 80% cơ sở đảng đạt trong sạch vững mạnh, 70% chính quyền cấp xã vững mạnh, 85% đoàn thể vững mạnh.

8- Trên 70% số làng, khu phố văn hoá; 80% số cơ quan, đơn vị văn hoá, 85% số hộ đạt gia đình văn hoá. Có 25% số trường mầm non, 80% số trường tiểu học, 50% số trường THCS và 25% số trường THPT đạt chuẩn quốc gia.

9- Có 80% số xã đạt chuẩn quốc gia về y tế, trên 90% dân đô thị, 80% dân nông thôn được dùng nước sạch; 100% đội ngũ cán bộ chuyên trách và công chức xã, phường, thị trấn đạt chuẩn.

10- Đến 2010 thị xã Hưng Yên là Thành phố thuộc tỉnh và Phố Nối trở thành thị xã công nghiệp - dịch vụ.

III - ĐẨY NHANH CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ TRÊN CƠ SỞ TIẾP TỤC PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA, CHỦ ĐỘNG HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

1- Tạo bước chuyển biến mạnh mẽ trong nông nghiệp, phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý:

- Phát triển nông nghiệp, nông thôn:

 Tiếp tục đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn. Hình thành các cơ sở sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, tạo ra vùng chuyên canh, thâm canh, sản xuất hàng hoá chất lượng cao; phấn đấu tăng diện tích lúa chất lượng cao lên trên 45%, cây vụ đông trên 40% diện tích canh tác, mở rộng diện tích trồng hoa, cây cảnh, cây ăn quả, dược liệu. Chú trọng phát triển chăn nuôi, thực hiện mô hình nuôi thâm canh thuỷ sản an toàn và có tính kháng bệnh cao. Đến 2010 cơ cấu cây lương thực 24% - cây công nghiệp, rau quả 31 % - chăn nuôi 45 % . Tiếp tục thực hiện tốt các dự án "nạc hoá" đàn lợn, "suất hoá" đàn bò, chăn nuôi bò sữa, nuôi cá rô phi đơn tính, sản xuất giống lúa và cây ăn quả theo hướng thâm canh. Khuyến khích phát triển dịch vụ nông nghiệp, trong đó chú trọng dịch vụ khoa học kỹ thuật nông nghiệp và tiêu thụ sản phẩm. Xây dựng xuất xứ và thương hiệu sản phẩm nông nghiệp có lợi thế. Nghiên cứu triển khai các dự án mới nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp, thu dần khoảng cách giữa tốc độ tăng giá trị sản xuất và giá trị gia tăng.

Tiếp tục đầu tư để cải tạo, nâng cấp và xây dựng mới các công trình thuỷ lợi, hệ thống đê điều và khuyến nông theo quy hoạch. Tăng nhanh số lượng trang trại, phấn dấu đến 2010 có từ 2.500 - 3.000 trang trại đạt tiêu chí liên bộ; quy hoạch đưa chăn nuôi, giết mổ gia súc, gia cầm theo hướng công nghiệp, tập trung và xa khu dân cư nhằm đảm bảo yêu cầu phòng chống dịch. Nhân rộng mô hình thu nhập trên 100 triệu đồng/ha canh tác và mô hình thu nhập trên 100 triệu đồng/hộ/năm. Quy hoạch phát triển kinh tế vùng bãi, vùng nguyên liệu, vùng sản xuất giống lúa chất lượng cao gắn với các chính sách hỗ trợ, ưu tiên thu hút các dự án chế biến nông sản thực phẩm. Rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch nông nghiệp, thuỷ lợi; hoàn thành quy hoạch xây dựng nông thôn mới gắn với việc giữ gìn bản sắc văn hoá làng xã Việt Nam. Tăng cường quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

  -Phát triển công nghiệp:

Tập trung phát triển công nghiệp theo hướng chuyển dịch cơ cấu công nghiệp theo ngành, sản phẩm, vùng và thành phần kinh tế, chú trọng phát triển một số ngành công nghiệp chủ lực, như điện tử, cơ khí luyện thép, ô tô, xe máy, dệt may, chế biến...; đổi mới công nghệ nhanh, giảm chi phí sản xuất và tỷ lệ gia công, tăng giá trị sản phẩm bằng sản xuất sản phẩm hoàn chỉnh có giá trị lớn và giá trị gia tăng cao, có sức cạnh tranh mạnh trên thị trường.

 Tiếp tục rà soát, điều chỉnh bổ sung qui hoạch phát triển công nghiệp đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, hiệu quả, bền vững, xác định những ngành, sản phẩm mũi nhọn để đầu tư. Điều chỉnh, bổ sung cơ chế, tăng sự hấp dẫn đối với các nhà đầu tư; ưu tiên các dự án lớn, có hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao, đóng góp nhiều cho ngân sách, sử dụng nguyên liệu và lao động tại chỗ, ít tác động xấu đến môi trường. Tích cực huy động các thành phần kinh tế trong nước và xúc tiến đầu tư nước ngoài, phấn đấu để trong 5 năm tới thu hút được 340 dự án, với số vốn đăng ký khoảng 1.240 triệu USD. Đến năm 2010, tổng số dự án đầu tư trên địa bàn khoảng 750 (630 trong nước và 120 ngoài nước), với tổng số vốn đăng ký khoảng 2.460 triệu USD. Quy hoạch và xây dựng thêm từ 3-5 khu công nghiệp, phấn đấu mỗi huyện có ít nhất 1 khu công nghiệp tập trung với qui mô phù hợp.

Cùng với phát triển các khu công nghiệp tập trung, cần chú ý phát triển ngành công nghiệp phụ trợ; khai thác hiệu quả các khu công nghiệp làng nghề, có cơ chế chính sách thích hợp đối với mọi loại hình làng nghề. Đến năm 2010 hoàn thành xây dựng và sử dụng cơ bản diện tích đất trong các khu công nghiệp làng nghề, phát triển thêm nhiều làng nghề mới.

- Phát triển kinh tế dịch vụ:

Phát triển, khai thác thế mạnh của các ngành dịch vụ còn nhiều tiềm năng, có giá trị gia tăng cao như: vận tải, bưu chính viễn thông, tài chính, tín dụng, bảo hiểm, du lịch, khách sạn, vui chơi giải trí..., gắn phát triển du lịch với các di tích lịch sử văn hoá như: cụm di tích Phố Hiến, Đa Hoà - Dạ Trạch, Tống Trân - Cúc Hoa, Đền Phù Ủng, đại danh y Hải Thượng Lãn Ông, các nhà tưởng niệm danh nhân.

Xây dựng hệ thống thông tin dữ liệu công khai để giúp các doanh nghiệp xây dựng chiến lược sản xuất kinh doanh, phát triển đồng bộ hệ thống dịch vụ tài chính, tín dụng, bảo hiểm, cơ sở hạ tầng phục vụ cho phát triển công nghiệp. Nâng cao chất lượng dịch vụ vận tải. Phát triển mạnh dịch vụ bưu chính viễn thông theo hướng hiện đại hoá. Tổ chức các hoạt động xúc tiến du lịch, hội chợ, triển lãm và các hình thức quảng bá khác ở trong nước và nước ngoài. Đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu lao động, mỗi năm đưa khoảng 3.000 lao động đi làm việc ở nước ngoài. Cùng với phát triển mở rộng đô thị, hình thành và nâng cấp các trung tâm thương mại, chợ đầu mối ở thị xã Hưng Yên, các thị trấn và trọng điểm kinh tế thương mại sôi động, gắn kết chặt chẽ hơn với thị trường Hà Nội và các tỉnh trong khu vực. Khuyến khích và tạo cơ chế phát triển mạnh loại hình dịch vụ nhà ở, dịch vụ vui chơi giải trí, văn hoá, thể thao cho người lao động ở các khu công nghiệp tập trung, trước hết là Như Quỳnh, Phố Nối và Thị xã Hưng Yên. Đẩy mạnh xã hội hoá trong lĩnh vực đào tạo, dạy nghề. Phát triển dịch vụ phụ trợ phục vụ cho phát triển công nghiệp (kho vận, cung ứng, tiêu thụ sản phẩm...) gắn với phát triển kinh tế vùng.

- Đầu tư phát triển :

Huy động tối đa các nguồn lực để tập trung cho đầu tư phát triển, đạt mức huy động vốn đầu tư trong 5 năm từ 35 - 40 ngàn tỷ đồng, trong đó nguồn vốn Trung ương khoảng 8,5%, ngân sách địa phương 18,5% (vốn từ quỹ đất khoảng 12,5%), doanh nghiệp nước ngoài 12,0%, vốn đầu tư của nhân dân và các doanh nghiệp trong nước 58%, nguồn vốn khác khoảng 3%. Tập trung đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, hỗ trợ vùng khó khăn, lĩnh vực cần quan tâm như: xử lý chất thải, môi trường, phát triển văn hoá - du lịch... Tiếp tục đầu tư cải tạo nâng cấp và chuẩn hoá các tuyến đường tỉnh, huyện theo cấp đường đã quy hoạch. Phối hợp với các bộ, ngành xúc tiến xây dựng đường cao tốc Hà Nội - Hải Phòng qua Hưng Yên, nâng cấp Quốc lộ 39A đạt tiêu chuẩn cấp I đồng bằng; nâng cấp đường 38,39B và đường 200 theo tiêu chuẩn đường cấp III đồng bằng; xây dựng các điểm đấu nối với các trục vành đai Hà Nội và đường giao thông đối ngoại với các tỉnh lân cận; sớm thi công tuyến đường từ cầu Thanh Trì đi Dân Tiến, Khoái Châu theo dự án được duyệt; xây dựng cảng sông Hồng theo quy hoạch của Bộ giao thông vận tải, chậm nhất đến 2010 đầu tư hoàn chỉnh cảng sông Luộc. Có cơ chế hỗ trợ để 100% các tuyến đường xã, đường thôn và 50% đường ra đồng được trải vật liệu cứng. Tiếp tục xây dựng các công trình thủy lợi theo quy hoạch được duyệt. Tích cực thúc đẩy và phối hợp với các bộ, ngành Trung ương trong việc cải tạo hệ thống giao thông trên sông Hồng thành trục vận tải, du lịch; sửa chữa, nâng cấp hệ thống công trình thuỷ lợi Bắc Hưng Hải và xây dựng các trạm bơm lớn khu vực. Cải tạo, xây dựng mới các trạm biến áp và đường dây cấp nguồn. Tiếp tục đầu tư mở rộng dung lượng thuê bao và mạng phủ sóng điện thoại, đường truyền Intemet. Đẩy nhanh tiến độ xây dựng các khu đô thị, khu du lịch, dịch vụ tại các huyện: Văn Giang, Văn Lâm, khu vực Phố Nối và thị xã Hưng Yên.

- Tài chính, tín dụng dịch vụ ngân hàng:

         Khai thác triệt để các nguồn thu, thu đúng, thu đủ chống thất thoát nguồn thu, thực hiện cơ chế khoán thu, uỷ nhiệm thu, nâng cao khả năng tài chính của tỉnh. Xây dựng nền tài chính lành mạnh, công khai, minh bạch, dân chủ và được kiểm soát thường xuyên, chặt chẽ.

Đẩy mạnh cải cách hành chính trong lĩnh vực tài chính. Sử dụng có hiệu quả nguồn vốn dành cho đầu tư, tiếp tục khoán chi cho các đơn vị sử dụng ngân sách. Thực hành tiết kiệm, chống thất thoát nguồn lực tài chính, nhất là các đơn vị sự nghiệp và trong đầu tư xây dựng cơ bản.

Nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng, ngân hàng, đảm bảo tốc độ tăng nguồn vốn huy động bình quân năm đạt 18,4%, dư nợ cho vay đạt 18,8%. Mở rộng cho vay các thành phần kinh tế trên cơ sở bảo đảm cơ cấu đầu tư, an toàn, hạn chế rủi ro trong hoạt động tín dụng. Có biện pháp hữu hiệu để thu hồi nợ quá hạn, nợ khó đòi, hạn chế nợ xấu phát sinh. Nâng cao vai trò quản lý Nhà nước về tiền tệ - tín dụng - ngân hàng, giám sát chặt chẽ hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân, tăng cường thanh tra, kiểm soát nội bộ.

2 - Đẩy nhanh tiến độ công nghiệp hoá - hiện đại hoá, chủ động tích cực hội nhập kinh tế quốc tế và phát triển kinh tế thị trường.

 Nắm bắt cơ hội và khai thác các lợi thế để đưa Hưng Yên trở thành tỉnh công nghiệp trước năm 2020. Phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao để phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, trước hết là công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn; quan tâm đào tạo và thu hút nhân tài, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, cán bộ khoa học kỹ thuật và công nhân lành nghề. Tích cực chủ động hội nhập kinh tế quốc tế bằng các giải pháp cụ thể.

 Ưu tiên tiếp nhận và ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại, tiên tiến vào sản xuất và đời sống; chú ý đến công nghệ mũi nhọn đầu tư vào những lĩnh vực then chốt. Xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý đảm bảo đưa nền kinh tế tăng trưởng nhanh, bền vững. Chuyển dần lao động nông nghiệp sang công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ; tăng năng suất lao động, đạt hiệu quả kinh tế cao.

Kết hợp tốt phát triển các khu công nghiệp tập trung với khu công nghiệp làng nghề, tạo điều kiện phát triển kinh tế của từng vùng và  từng địa phương. Đẩy mạnh phát triển công nghiệp ngoài nhà nước, nghề truyền thống và ngành nghề có hàm lượng công nghệ cao, phù hợp yêu cầu thị trường.

Mở rộng kinh tế đối ngoại, tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu, củng cố thị trường truyền thống, mở rộng thêm thị trường mới. Phát triển nhanh kinh tế ở các huyện có điều kiện, làm động lực thúc đẩy kinh tế toàn tỉnh.

Đào tạo và đào tạo lại để nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, công chức, viên chức, đáp ứng yêu cầu của hội nhập như. ngoại ngữ, tin học, thông tin kinh tế, kiến thức về thông lệ quốc tế.

3- Củng cố phát triển mạnh các thành phần kinh tế

Đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế nhà nước, sử dụng có hiệu quả nguồn lực của nhà nước theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Tiếp tục thực hiện chương trình sắp xếp nâng cao hiệu quả các doanh nghiệp nhà nước, trọng tâm là cổ phần hoá.

Đổi mới và phát triển kinh tế tập thể theo hướng đa dạng hoá các hình thức sở hữu và hình thức sản xuất kinh doanh. Tạo điều kiện thuận lợi để các loại hình hợp tác và hợp tác xã phát triển thành những tổ chức kinh tế đủ khả năng cạnh tranh trên thị trường. Xoá bỏ mọi trở ngại, tạo tâm lý xã hội và môi trường thuận lợi cho kinh tế tư nhân phát triển, không hạn chế về quy mô, ngành nghề, lĩnh vực mà Nhà nước không cấm.

Khuyến khích phát triển mạnh các loại hình tổ chức sản xuất kinh doanh hỗn hợp, nhiều hình thức sở hữu, có hiệu quả tốt.

IV- PHÁT TRIỀN CÁC LĨNH VỰC VĂN HOÁ - XÃ HỘI, CHĂM LO ĐỜI SỐNG NHÂN DÂN

1-Tiếp tục phát triển, nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ

 Giáo dục - đào tạo phải đáp ứng yêu cầu nâng cao dân trí đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài; chú trọng giáo dục chính trị, tư tưởng và rèn luyện tu dưỡng phẩm chất đạo đức.

Phát triển giáo dục cân đối về qui mô, loại hình, tăng cường chất lượng, hiệu quả; chuyển dần sang mô hình giáo dục mở, xây dựng xã hội học tập. Tiếp tục phấn đấu nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện; đảm bảo 50%-55% cháu vào nhà trẻ, 90% vào mẫu giáo, 100% trẻ em  6 tuổi vào lớp 6,90 % học hết trung học cơ sở vào học trung học phổ thông và học nghề.

Đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục và khuyến học, phát huy hiệu quả của các trung tâm học tập cộng đồng, hướng nghiệp, dạy nghề. Giữ vững thành quả phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở. Quan tâm đến chất lượng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục các cấp học, nghành học, hàng năm có từ 20- 25% học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông và đại học, cao đẳng, tăng số học sinh giỏi quốc gia, phấn đấu có học sinh giỏi khu vực và quốc tế; 100% phòng học phổ thông, 50-55% phòng học mầm non kiên cố và cao tầng.

Đổi mới cơ chế quản lý giáo dục theo hướng phân cấp và tăng quyền chủ động của các cơ sở giáo dục. Phân phối tốt với các bộ, ngành để đến năm 2010 có thêm từ 2- 3 trường đại học và cao đẳng trên địa bàn tỉnh, trong đó có trường đại học đa ngành chất lượng cao mở rộng và phân cấp trường Cao đẳng sư phạm theo hướng đa hệ, đa ngành; nâng cấp một số trường nghiệp vụ lên trường trung học chuyên nghiệp.

Đào tạo dạy nghề theo hướng tiếp cận với công nghệ hiện đại, đào tạo cán bộ quản lý, cán bộ có trình độ chuyên môn, kĩ thuật cao và tác phong công nghiệp, am hiểu pháp luật và thông lệ quốc tế. Tăng tỉ lệ đào tạo công nhân lành nghề và có tỷ lệ lao động trong độ tuổi qua đào tạo trên 40% vào năm 2010. Trong quy hoạch sử dụng đất phải dành diện tích thích hợp để phục vụ sự nghiệp giáo dục đào tạo và dạy nghề.

Đẩy mạnh việc nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng các tiến bộ khoa học- công nghệ vào sản xuất và đời sống, áp dụng các biện pháp kĩ thuật tiên tiến kết hợp với cung ứng các loại giống cây, con  có năng suất chất lượng tốt, hiệu quả kinh tế  cao; chú ý đúng mức đến khoa học xã hội và nhân văn. Đẩy mạnh hoạt động tư vấn dịch vụ khoa học và công nghệ, đổi mới các cơ chế quản lý và tăng cường đa dạng hóa các nguồn lực đầu tư từ ngân sách Nhà nước đi đôi với đa dạng hóa các nguồn đầu tư cho khoa học- công nghệ, hỗ trợ các doanh nghiệp triển khai  ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học, đổi mới công nghệ và áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế. Tạo lập thị trường khoa học- công nghệ trên địa bàn tỉnh; sửa đổi chính sách nhằm đạo tạo, bồi dưỡng cán bộ khoa học, thu hút  nhân tài có hiệu quả hơn nữa. Thành lập Liên hiệp các hội khoa học kỹ thuật tỉnh.

Tiếp tục triển khai mở rộng chương trình ứng dụng công nghệ thông tin, đáp ứng yêu cầu lãnh đạo của cấp uỷ Đảng, chỉ đạo điều hành của chính quyền các cấp. Nâng cao chất lượng các dự án, đề tài khoa học đáp ứng tốt hơn sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Tăng cường công tác quản lý và bảo vệ môi trường, quan tâm đầu tư, hỗ trợ hoạt động thu gom, tái chế và xử lý chất thải.

2- Phát triển sự nghiệp y tế - dân số, gia đình và trẻ em

Tiếp tục củng cố và hoàn thiện hệ thống y tế từ tỉnh đến cơ sở, đa dạng hoá các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ tại cộng đồng. Đẩy mạnh việc nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ y học và đầu tư thiết bị hiện đại cho bệnh viện tuyến tỉnh. Nâng cao chất lượng khám và điều trị của các cơ sở y tế. Chú trọng y tế tuyến xã và tuyến huyện để giảm tỷ lệ bệnh nhân chuyển tuyến trên. Tăng cường công tác y tế dự phòng đảm bảo phát hiện và xử lý kịp thời, không để xảy ra dịch bệnh, thực hiện tốt vệ sinh an toàn thực phẩm. Mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện, đồng thời bảo đảm quyền lợi, giảm phiền hà với bệnh nhân có bảo hiểm y tế. Quản lý chặt chẽ hành nghề y dược tư nhân. Quan tâm đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, tu dưỡng y đức của đội ngũ thầy thuốc, kết hợp tốt việc chẩn trị y học hiện đại với y học cổ truyền. Giữ vững 100% trạm xá xã có bác sỹ; có chính sách hỗ trợ xã khó khăn, xây dựng chuẩn quốc gia về y tế.

Duy trì thực hiện tốt chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình, giữ tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên ở mức dưới 1 %, từng bước nâng cao chất lượng dân số. Xây dựng "gia đình ít con, no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc" Đẩy mạnh xã hội hoá công tác dân số, gia đình và trẻ em, tiếp tục giảm tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng xuống còn dưới 10% trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn được trợ giúp để hoà nhập với cộng đồng.

3- Phát triển sự nghiệp văn hoá - thông tin, thể dục thể thao

Quán triệt và thực hiện tốt quan điểm: Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, tiếp tục phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng làng, khu phố, cơ quan, đơn vị văn hoá, gia đình văn hoá đạt mục tiêu đề ra, có chất lượng thật sự. Khai thác các nguồn lực để trùng tu, giữ gìn, phát huy giá trị các di sản văn hoá vật thể và phi vật thế của địa phương. Xây dựng hoàn chỉnh khu di tích Văn miếu Xích Đằng, Chử Đồng -Tử Tiên Dung, cụm di tích Phố Hiến. Tăng cường quản lý Nhà nước về dịch vụ văn hoá, kinh doanh văn hoá phẩm, nhằm phát huy mặt tích cực, ngăn chặn văn hóa phẩm tiêu cực, độc hại.

Khuyến khích, hỗ trợ các hoạt động sáng tác, biên soạn, để tăng số lượng và chất lượng tác phẩm văn nghệ, sách, báo, tạp chí, chương trình phát thanh truyền hình hấp dẫn người đọc, người xem, đáp ứng nhiệm vụ tuyên truyền giáo dục và hưởng thụ văn hoá của nhân dân; có cơ chế khuyến khích, khen thưởng xứng đáng những tác phẩm xuất sắc viết về Hưng Yên. Đến năm 2010, tất cả các huyện, xã có trung tâm văn hoá, thôn (làng) có nhà văn hoá. Tăng cường các hoạt động văn hoá, văn nghệ quần chúng, phát triển mạng lưới thư viện, tủ sách cơ sở.

Đẩy mạnh xã hội hoá, mở rộng các hoạt động thể thao quần chúng, nâng cao chất lượng thể thao thành tích cao. Kịp thời phát hiện, bồi dưỡng tài năng văn hóa, thể thao, đầu tư trọng điểm một số môn thể thao tỉnh có ưu thế để giành thứ hạng cao trong nước, quốc tế, khuyến khích các tổ chức, cá nhân tham gia tổ chức và tài trợ các hoạt động văn hóa, thể thao.

          Xây dựng khu thi đấu thể thao của tỉnh; các huyện có trung tâm văn hóa thể thao; xã, thôn có 11 sân thể thao. Đầu tư cơ sở vật chất cho hoạt động văn hóa, thể thao vui chơi giải trí ở đô thị và khu công nghiệp.

 4- Thực hiện các chính sách xã hội và tạo việc làm cho người lao động.

Thực hiện tốt chính sách đối với người có công với cách mạng. Duy trì và đẩy mạnh phong trào “đền ơn đáp nghĩa”. Hàng năm dùng một phần ngân sách để hỗ trợ các đối tượng chính sách khó khăn. Phấn đấu 100% xã, phường được công nhận thực hiện tết công tác chăm sóc thương binh, gia đình liệt sỹ và người có công với cách mạng. Quan tâm phụng dưỡng người già, trợ giúp người tàn tật, người không nơi nương tựa, nạn nhân chất độc da cam, người nghèo; giúp đỡ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, học sinh nghèo vượt khó.

 Tiếp tục đẩy mạnh chương trình giảm nghèo với những hoạt động thiết thực, hiệu quả. Có chính  sách ưu tiên đầu tư cho vùng sâu, vùng xa, để tiếp tục thu hẹp diện xã khó khăn, giảm sự chênh lệch giữa các địa bàn.

Khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển ngành nghề thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, làm cơ sở chuyển dịch cơ cấu lao động và tạo thêm nhiều việc làm mới, đến 2010 cơ cấu lao động trong nông nghiệp 55%, công nghiệp và xây dựng 21%, dịch vụ 24%, có giải pháp thiết thực trong giải quyết việc làm cho hộ nông dân dành đất xây dựng đô thị và phát triển công nghiệp. Phấn đấu giảm tỷ lệ thất nghiệp ở đô thị xuống còn 2,5% đến 3%, nâng thời gian sử dụng lao động ở nông thôn lên 85%.

 V-  CỦNG CỐ, TĂNG CƯỜNG QUỐC PHÒNG - AN NINH.

Đảm bảo sự lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên của các cấp uỷ đảng, chính quyền đối với nhiệm vụ quốc phòng - an ninh và lực lượng quân đội, công an. Xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân ngày càng vững chắc. Quán triệt sâu sắc và vận dụng có hiệu quả nhiệm vụ chiến lược xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội kết hợp với tăng cường quốc phòng - an ninh, bảo vệ Tổ quốc. Tiếp tục xây dựng tỉnh, huyện thành khu vực phòng thủ vững chắc.

Tăng cường giáo dục ý thức quốc phòng, nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên, nhân dân và lực lượng vũ trang về yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Coi trọng xây dựng thế trận quốc phòng - an ninh ở cơ sở, giữ vững "thế trận lòng dân" nhằm đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu "Diễn biến hoà bình" của các thế lực thù địch.

Giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội trong mọi tình huống. Phối hợp các lực lượng giải quyết kịp thời, hiệu quả những vấn đề phức tạp ở cơ sở.

Đẩy mạnh các biện pháp phòng ngừa, thường xuyên nắm chắc tình hình an ninh ở cơ sở, kiên quyết không để xảy ra "đột biến bất ngờ”. Củng cố phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc, trong đó lực lượng công an nhân dân làm nòng cốt. Tạo bước chuyển biến căn bản trong lĩnh vực trật tự xã hội, trật tự an toàn giao thông, trật tự công cộng, phòng, chống tội phạm và các tệ nạn xã hội.

Thực hiện tốt nhiệm vụ tuyển quân và chính sách hậu phương quân đội. Xây dựng lực lượng vũ trang tỉnh thực sự vững mạnh về chính trị tư tưởng, giỏi về chiến thuật và nghiệp vụ, ý thức tổ chức kỷ luật cao, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao.

VI- Nâng cao hiệu quả quản lý và điều hành của chính quyền các cấp.

Thường xuyên kiện toàn bộ máy chính quyền các cấp nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả điều hành quản lý xã hội theo pháp luật, nhất là chính quyền cấp cơ sở. Đổi mới phương thức điều hành, tạo bước chuyển biến toàn diện và rõ nét trong cải cách hành chính của bộ máy chính quyền các cấp, đẩy mạnh việc phân cấp quản lý, phân định rõ trách nhiệm của bộ máy cơ quan công quyền, đi đôi với đào tạo bồi dưỡng để cán bộ, công chức chính quyền các cấp đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ.

Từng bước hiện đại hoá nền hành chính Nhà nước; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động quản lý Nhà nước ở địa phương. Tăng cường các biện pháp chống tham nhũng, lãng phí, thực hành tiết kiệm; thực hiện nghiêm các chế độ quản lý tài chính, tài sản công, các khoản quỹ do nhân dân đóng góp, bảo đảm minh bạch, dân chủ, công khai trong quản lý ngân sách; thực hiện thanh tra kiểm toán tài chính trong các cơ quan hành chính, sự nghiệp và các tổ chức kinh tế - xã hội.

          Coi trọng giáo dục nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức, phong cách, ý thức chấp hành pháp luật và phục vụ nhân dân của đội ngũ công chức Nhà nước. Quản lý, kiểm tra và xử lý nghiêm minh  những công chức thoái hoá, biến chất, gây phiền hà sách nhiễu với nhân dân. Tiếp tục làm trong sạch đội ngũ công chức và giữ vững kỷ cương trong các cơ quan nhà nước.

 VII - PHÁT HUY VAI TRÒ, NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VÀ CÁC ĐOÀN THỂ

Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể trong việc tổ chức và vận động nhân dân thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước.

Xây dựng Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể thực sự vững mạnh, có sức thu hút được đông đảo đối tượng tham gia trên cơ sở tăng số lượng thành viên, hội viên, đoàn viên. tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động. Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể phải là nơi đáp ứng nguyện vọng, tập hợp và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, phát huy vai trò trách nhiệm tham gia bầu cử đại biểu Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp, tích cực đóng góp ý kiến xây dựng chủ trương, pháp luật tham gia xây dựng chỉnh đốn Đảng, thông qua đó tăng cường mối liên hệ gắn bó chặt chẽ giữa nhân dân với tổ chức đảng và chính quyền. Tiếp tục đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể theo phương châm hướng về cơ sở, vì cơ sở, bảo đảm thiết thực, hiệu quả, chống quan liêu hình thức. Từng đoàn thể cần phát động và duy trì tốt các phong trào quần chúng mang sắc thái riêng của mình vừa thiết thực với đoàn viên, hội viên, có tác dụng xây dựng tổ chức đoàn thể vững mạnh và phục vụ nhiệm vụ chính trị của Đảng bộ. Tích cực vận động đoàn viên, hội viên tham gia các cuộc vận động xã hội rộng rãi: Đền ơn đáp nghĩa, vì người nghèo, Vì trẻ em, Giúp đỡ nạn nhân chất độc da cam…

Xây dựng cơ chế phù hợp để Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể làm tốt chức năng giám sát và phản biện xã hội, tôn trọng và bảo vệ quyền lợi chính đáng của đoàn viên, hội viên và nhân dân, góp phần xây dựng hệ thống chính trị trong sạch vững mạnh. Tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện qui chế dân chủ ở cơ sở. Tổ chức đảng và đảng viên công tác tại cơ quan Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân phải là những tấm gương tiêu biểu để quy tụ tập hợp được quần chúng tham gia.

VIII - NÂNG CAO NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO VÀ SỨC CHIẾN ĐẤU CỦA ĐẢNG BỘ.

 1- Nâng cao bản lĩnh chính trị, rèn luyện đạo đức lối sống

          Có kế hoạch phù hợp để mọi cán bộ, đảng viên đều được học tập và thường xuyên tự học tập, rèn luyện, tu dưỡng nhằm nâng cao nhận thức về chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nắm vững quan điểm, đường lối chính sách của Đảng trong công cuộc đổi mới.

          Tiếp tục đổi mới nội dung và phương pháp giảng dạy, học tập lý luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ theo hướng nâng cao tính thiết thực, hiệu quả, phù hợp đối tượng. Cải tiến cách thức tổ chức nghiên cứu, quán triệt nghị quyết của Đảng, tiến hành các đợt sinh hoạt chính trị, bảo đảm kết quả sát thực, đi vào cuộc sống.

 Tăng cường sự thống nhất về chính trị, tư tưởng, xây dựng niềm tin vững chắc của Đảng bộ và nhân dân Hưng Yên vào sự nghiệp đổi mới. Cùng với nhiệm vụ lãnh đạo phát triển văn hoá, các tổ chức đảng và đảng viên phải chú trọng xây dựng văn hoá trong Đảng, các cơ quan Đảng phải là cơ quan văn hoá tiêu biểu.

Tiếp tục thực hiện có hiệu quả cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Mỗi cấp uỷ, cán bộ, đảng viên phải thẳng thắn, nghiêm túc tự phê bình và phê bình, xây dựng đoàn kết nội bộ, đấu tranh chống tham nhũng, quan liêu, cơ hội, bảo thủ, "bệnh thành tích": học tập và rèn luyện theo đạo đức, tác phong Hồ Chí Minh. Nâng cao ý thức cảnh giác cách mạng, kiên quyết bác bỏ các luận điệu xuyên tạc, các quan điểm sai trái, cơ hội chính trị đấu tranh bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, làm thất bại âm mưu “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch.

2- Đẩy mạnh phong trào thi đua xây dựng cơ sở đảng trong sạch vững mạnh, nâng cao chất lượng đảng viên

Xây dựng tổ chức cơ sở đảng thực sự trong sạch vững mạnh, giải quyết kịp thời cơ sở yếu  kém, giữ đúng vai trò là hạt nhân chính trị ở cơ sở, huy động và quy tụ được sức mạnh của địa phương, đơn vị, giải quyết các vấn đề nảy sinh tại cơ sở thực hiện tốt nhất nhiệm vụ chính trị được giao. Các cấp uỷ thường xuyên quan tâm đến cơ sở đảng, động viên khen thưởng những nơi có thành tích, hướng dẫn giúp đỡ những nơi khó khăn, phát hiện sớm và xử lý kịp thời những nơi sai phạm, mất đoàn kết, phong trào yếu kém. Chú trọng thành lập tổ chức cơ sở đảng và phát triển  đảng viên ở doanh nghiệp thuộc các thành phần  kinh tế.

          Các cơ sở đảng phải nghiêm túc chấp hành Điều lệ, nghị quyết, chỉ thị, các quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Đổi mới nâng cao chất lượng sinh hoạt Đảng ủy, chi ủy, chi bộ, phân công đảng viên đúng người đúng việc, tăng cường quản lý và đánh giá đúng chất lượng đảng viên. Đổi mới công tác đánh giá đúng tổ chức đảng theo hướng coi trọng chất lượng¸lấy hiệu quả lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ làm thước đo chủ yếu.

          Chú trọng xây dựng đội ngũ giảng viên, nhất là đảng viên ở nông thôn, ở doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, giữ vững lập trường của giai cấp công nhận, tích cực phấn đấu vì lí tưởng của Đảng, có kiến thức và năng lực để làm tròn nhiệm vụ. Làm tốt công tác bồi dưỡng phát triển đảng viên, trước hết là đoàn thanh niên, quần chúng ưu tú trong công nhân, nông dân, trí thức, phấn đấu mỗi năm kết nạp mới từ 1.500 đến 1.600 đảng viên. Mặt khác thường xuyên xem xét và kịp thời đưa ra khỏi Đảng những người tha hóa, biến chất không đủ tiêu chuẩn đảng viên bằng các hình thức phù hợp.

3- Đổi mới nâng cao chất lượng công tác tổ chức và cán bộ

Giữ vững nguyên tắc các cơ sở đảng phải nghiêm túc chấp hành Điều lệ nghị quyết, chỉ thị, các quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Đổi mới nâng cao chất lượng sinh hoạt đảng uỷ, chi uỷ, chi bộ, phân công đảng viên đúng người, đúng việc, tăng cường quản  lý và đánh giá đúng chất lượng đảng viên. Đổi mới công tác đánh giả tổ chức cơ sở đảng theo hướng coi trọng chất lượng, lấy hiệu quả lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ làm thước đo chủ yếu. Chú trọng xây dựng đội ngũ đảng viên, nhất là đảng viên ở nông thôn, ở doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, giữ vững lập trường của giai cấp công nhân, tích cực phấn đấu vì lý tưởng của Đảng, có kiến thức và năng lực để làm tròn nhiệm vụ. Làm tốt công tác bồi dưỡng phát triển đảng viên, trước hết là đoàn viên thanh niên, quần chúng ưu tú trong công nhân, nông dân, trí thức, phấn đấu mỗi năm kết nạp mới từ 1.500 đến 1.600 đảng viên. Mặt khác thường xuyên xem xét và kịp thời đưa ra khỏi Đảng những người thoái hoá, biến chất, không đủ tiêu chuẩn đảng viên bằng các hình thức phù hợp.

Đảng thống nhất lãnh đạo công tác tổ chức, cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị, thực hiện tốt việc sắp xếp tổ chức bộ máy trong hệ thống chính trị. Chú trọng công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng, luân chuyển, khen thưởng kỷ luật và chính sách cán bộ, trong đó công tác quy hoạch và luân chuyển cán bộ phải được quán triệt và thực hiện tốt hơn; bảo đảm tính liên tục, kế thừa, phát triển và trẻ hoá cán bộ theo các quy định của Trung ương. Hoàn thiện cơ chế chính sách phát hiện, tuyển chọn, bồi dưỡng, thu hút, trọng dụng nhân tài nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng tốt hơn yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới. Nêu cao trách nhiệm của tổ chức đảng có thẩm quyền quản lý cán bộ và vai trò của người đứng đầu  trong công tác cán bộ. Kiên quyết chống biểu hiện cá nhân độc đoán mất dân chủ, cơ hội, né tránh, trì trệ cục bộ trong công tác cán bộ, nhất là ở cơ sở. Thực hiện công khai hoá trong kiểm tra, đánh giá cán bộ, xây dựng cơ chế giám sát của nhân dân. Xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên vi phạm, xử lý trách nhiệm cá nhân người đứng đầu và cấp phó của người đứng đầu cơ quan, đơn vị để xảy ra tham nhũng, tiêu cực và mất đoàn kết kéo dài. Mở rộng và tôn  trọng quyền đề cử, ứng cử, bầu cử có số dư theo quy định; thực hiện chế độ đề bạt, bổ nhiệm có thời hạn và có nhiều phương án nhân sự để lựa chọn.

 Xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý, cán bộ chuyên môn đầu ngành có năng lực và phẩm chất tốt, tương xứng với nhiệm vụ được giao, được quần chúng tín nhiệm. Phấn đấu đến 2010: 100% cán bộ diện Tỉnh uỷ quản lý có trình độ chuyên môn từ đại học, lý luận chính trị từ cao cấp trở lên, trong đó có 7 - 8% thạc sỹ,  tiến sỹ; có trình ngoại ngữ, tin học đáp ứng được yêu cầu trong công tác lãnh đạo và quản lý.

 4- Đề cao ý thức tổ chức kỷ luật, phát huy dân chủ, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát của Đảng

Thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ, tăng cường đoàn kết nội bộ, mọi đảng viên có quyền và trách nhiệm thảo luận, tranh luận, đóng góp ý kiến xây dựng Đảng, quyền được bảo lưu ý kiến,  song phải nói và làm theo nghị quyết của Đảng. Công tác kiểm tra phải được coi trọng, cấp uỷ và uỷ ban kiểm tra các cấp chủ động xây dựng chương trình, kế hoạch và tiến hành công tác kiểm tra. Thường xuyên kiện toàn tổ chức, bồi dưỡng phẩm chất chính trị, đạo đức, nghiệp vụ cho cán bộ kiểm tra, nhất là cấp cơ sở; nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra, tăng cường kiểm tra chấp hành Điều lệ, các nguyên tắc tổ chức và quy định của Đảng, chủ động phòng ngừa kịp thời xử lý nghiêm các vi phạm và giải quyết đơn thư khiếu nại tố cáo.

Tăng cường phối hợp công tác giữa cơ quan kiểm tra của Đảng với các cơ quan bảo vệ pháp luật bảo đảm và phát huy quyền kiểm tra, giám sát của tổ chức đảng với đảng viên và giữa đảng viên với đảng viên, giám sát của Mặt trận Tổ quốc các đoàn thể và của nhân dân với tổ chức đảng và đảng viên theo quy chế.

5- Tăng cường công tác dân vận, đổi mới phương thức lãnh đạo đối với chính quyền, đoàn thể

Nắm vững quan điểm công tác dân vận là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị. Các cấp uỷ đảng, chính quyền, đoàn thể phải thực hiện tốt cơ chế. Đảng lãnh đạo - chính quyền quản lý - nhân dân làm chủ. Mọi đảng viên, cán bộ, công chức phải tham gia và làm tốt công tác vận động quần chúng. Các dấp uỷ tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo, đồng thời tôn trọng tính chủ động, sáng tạo và quyền dân chủ của Một trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân.

Kiện toàn tổ chức ban dân vận ở các cấp, lựa chọn cán bộ có năng lực, được bồi dưỡng nghiệp vụ để làm tốt chức năng tham mưu giúp cấp uỷ về công tác dân vận.

Đổi mới sự lãnh đạo của cấp uỷ đối với chính quyền thông qua công tác tổ chức cán bộ; tăng cường chỉ đạo và kiểm tra các cấp chính quyền trong việc thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Đảng. Các cấp chính quyền kịp thời thể chế hoá nghị quyết chủ trương, chính sách của Đảng. Xây dưng chính quyền vững mạnh, hoạt động có hiệu lực và hiệu quả.

Với bản lĩnh chính trị và năng lực trí tuệ, với thế và lực phát triển đã được tạo lập, Đảng bộ và nhân dân Hưng Yên quyết tâm đưa Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI vào hiện thực cuộc sống, xứng đáng với truyền thống cách mạng và văn hiến của Đảng bộ và nhân dân Hưng Yên.

 

Tổng số trang1-20 (of 55)
Page:1 - 2 - 3.  Trước · Tiếp