2    7    2    8    5    8    
BẢN TIN THÔNG BÁO NỘI BỘ
Số: 213 - 2014
MỤC LỤC
Văn kiện Đảng bộ tỉnh Hưng Yên/ Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2010 - 2015

  Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lần thứ XVII,

nhiệm kỳ 2010 - 2015

Thực hiện Chỉ thị số 37-CT/TW ngày 4.8.2009 của Bộ Chính trị về đại hội đảng bộ các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng;

Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lần thứ XVII họp từ ngày 19 đến ngày 21.9.2010 tại Nhà văn hóa trung tâm tỉnh; sau khi xem xét Báo cáo chính trị, Báo cáo kiểm điểm sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XVI trình tại đại hội; ý kiến tham gia thảo luận của các đại biểu.

Quyết nghị

I- Tán thành những nội dung cơ bản về đánh giá tình hình thực hiện Nghị quyết Đại hội XVI nhiệm kỳ 2005-2010 và phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ 5 năm 2010 - 2015 nêu trong Báo cáo chính trị trình đại hội:

A. Về đánh giá tình hình thực hiện Nghị quyết Đại hội XVI nhiệm kỳ 2005 - 2010, đại hội khẳng định:

Sau 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI, trong bối cảnh chịu sự tác động không nhỏ của thời tiết, thiên tai, dịch bệnh, nhất là cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu; Đảng bộ và nhân dân Hưng Yên với quyết tâm cao, đoàn kết thống nhất, chủ động, sáng tạo, nỗ lực phấn đấu, vượt qua nhiều khó khăn thách thức đã giành được những thành tựu quan trọng, hoàn thành khá toàn diện mục tiêu đại hội đề ra.

Tốc độ tăng trưởng bình quân 5 năm đạt 11,74%. Huy động vốn đầu tư phát triển toàn xã hội gần 50.000 tỷ đồng. Thu nhập bình quân đầu người 20 triệu đồng. Giá trị sản xuất tăng bình quân năm: nông nghiệp 3,5% - công nghiệp, xây dựng 21% - dịch vụ 15%. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng nhanh công nghiệp và dịch vụ, năm 2010 tỷ trọng: nông nghiệp 25% - công nghiệp, xây dựng 44% - dịch vụ 31%. Cơ cấu lao động: nông nghiệp 53,5% - công nghiệp, xây dựng 25,5% - dịch vụ 21%. Thu ngân sách năm 2010 đạt 3.000 tỷ đồng, trong đó thu nội địa 2.400 tỷ đồng.

Nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng sản xuất hàng hóa, phát triển nhanh cây, con có giá trị kinh tế cao. Phát triển gần 4.000 trang trại và 45% diện tích lúa chất lượng cao, nhiều ngành nghề và loại hình dịch vụ ở nông thôn được khuyến khích phát triển. Các chính sách hỗ trợ như miễn thủy lợi phí, giống cây trồng, vật nuôi được thực hiện để khuyến khích nông dân đẩy mạnh và tăng hiệu quả sản xuất, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Tỷ trọng trong nông nghiệp: lương thực 24% - cây công nghiệp, rau quả 30% - chăn nuôi, thủy sản 46%.

Công nghiệp phát triển nhanh, sản phẩm đa dạng hơn về chủng loại, có chất lượng, thương hiệu và sức cạnh tranh trên thị trường. Quy hoạch 14 khu công nghiệp, 5 khu đi vào hoạt động, 2 khu đã lấp đầy diện tích. Thu hút 813 dự án đầu tư (trong nước 633, nước ngoài 180), với tổng vốn đăng ký 3.590 triệu USD, 475 dự án đi vào hoạt động, đạt giá trị sản xuất gần 20 nghìn tỷ đồng/năm, đóng góp trên 80% số thu ngân sách hàng năm; có 3.000 doanh nghiệp đang hoạt động. Các loại hình dịch vụ phát triển đa dạng và phong phú hơn. Giá trị xuất khẩu ngày càng tăng, năm 2010 ước đạt 500 triệu USD.

Hạ tầng kinh tế - xã hội được đầu tư lớn, như: Giao thông, thủy lợi, trường học, bệnh viện và đô thị. Một số công trình trọng điểm, có ý nghĩa kinh tế - xã hội được đầu tư vào hoàn thành, như: đường 38, quảng trường và đường Nguyễn Văn Linh... tạo động lực để phát triển kinh tế và nâng diện mạo đô thị, nông thôn ngày càng khởi sắc. Tài chính, tín dụng, ngân hàng hoạt động có hiệu quả, đáp ứng kịp thời nguồn vốn để bảo đảm hoạt động và đầu tư phát triển.

Sự nghiệp giáo dục - đào tạo tiếp tục phát triển, chất lượng được nâng lên; tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn và học sinh tốt nghiệp thi đỗ đại học và cao đẳng tăng hàng năm, duy trì phổ cập tiểu học và THCS; 157 trường đạt chuẩn quốc gia; thành lập mới 7 trường THPT và 6 trường đại học, cao đẳng. Khu đại học Phố Hiến được Chính phủ phê duyệt đang triển khai để sớm đi vào hoạt động; dự án bảo tồn, tôn tạo phát huy giá trị đô thị cổ Phố Hiến gắn với phát triển du lịch đã được Chính phủ phê duyệt đang được triển khaio. Công tác nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ được đẩy mạnh. Hoạt động văn hóa, văn nghệ, thông tin, thể dục thể thao ngày càng mở rộng, từng bước đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa của nhân dân. Cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa" từng bước đi vào chiều sâu, trên 80% số cơ quan đơn vị và 72% số làng, khu phố đạt tiêu chuẩn văn hóa. Các cơ sở y tế được nâng cấp và đầu tư trang thiết bị; 90% số xã đạt chuẩn quốc gia về y tế; tỷ lệ phát triển dân số dưới 1%; trẻ em suy dinh dưỡng từ 24% năm 2005 còn 17% năm 2010. Giải quyết việc làm, giảm nghèo, thực hiện chính sách với người có công, chính sách an sinh xã hội đạt nhiều kết quả. Số hộ nghèo từ 13% năm 2006 giảm còn 3%; dạy nghề cho hơn 11,4 nghìn người, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 40%; tạo việc làm thường xuyên cho hơn 11 vạn lao động.

Quốc phòng, an ninh được củng cố, tăng cường. Thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân được củng cố. Chủ động phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn và xử lý có hiệu quả các loại tội phạm, giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm an ninh, trật tự an toàn xã hội. Hàng năm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tuyển quân.

Hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền các cấp được nâng lên. Sức mạnh đại đoàn kết toàn dân được phát huy, dân chủ được mở rộng. Tập trung quan tâm nhiều hơn vào giải quyết những vấn đề khó khăn, vướng mắc để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Cải cách hành chính có sự chuyển biến, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp và nhân dân. Tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp có chuyển biến bước đầu trong thực hiện cải cách; hạn chế được tình trạng truy tố, xét xử, oan, sai, bỏ lọt tội phạm. Công tác phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí được lãnh đạo, chỉ đạo tích cực, đạt được một số kết quả, một số vụ án kinh tế được đưa ra xét xử; tình trạng lãng phí, tham nhũng được kiềm chế.

Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân phát huy tốt hơn vai trò tham mưu, tập hợp xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền. Tổ chức nhiều cuộc vận động có hiệu quả, góp phần phát triển kinh tế - xã hội và giảm nghèo. Dân chủ xã hội được mở rộng, tạo điều kiện để nhân dân giám sát các hoạt động của tổ chức đảng, chính quyền, cơ quan, đơn vị; tham gia giám sát cộng đồng tại địa bàn dân cư. Dân chủ trong Đảng, các tổ chức và xã hội được nâng cao; quyền làm chủ của nhân dân được tôn trọng và phát huy.

Công tác xây dựng Đảng được chú trọng; cuộc vận động "học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" đạt kết quả bước đầu, tạo sức lan tỏa trong cán bộ, đảng viên và nhân dân; khơi dậy phong trào thi đua yêu nước sâu rộng trong xã hội. Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng đối với cán bộ, đảng viên có nhiều đổi mới, tạo sự thống nhất tư tưởng trong đảng bộ và sự đồng thuận trong nhân dân. Cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng được đẩy mạnh; công tác tổ chức, cán bộ được thực hiện tương đối đồng bộ; đội ngũ cán bộ được bổ sung về số lượng, chú trọng nâng cao chất lượng. Tổ chức bộ máy các cơ quan Đảng, Nhà nước các cấp được sắp xếp, kiện toàn theo hướng nâng cao chất lượng và hiệu quả. Việc củng cố, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở đảng, chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên được tăng cường. Công tác phát triển, quản lý đảng viên được chú trọng, mỗi năm kết nạp trên 1.500 đảng viên. Công tác bồi dưỡng lý luận chính trị, nghiệp vụ chuyên môn cho cán bộ, đảng viên được quan tâm; cử 300 cán bộ các cấp đi học đại học và cao cấp lý luận chính trị; 3.575 học viên trung cấp lý luận chính trị và bồi dưỡng lý luận nghiệp vụ cho 90.000 lượt cán bộ cơ sở.

Công tác kiểm tra, giám sát của Đảng được coi trọng, chất lượng, hiệu quả được nâng lên. Trong nhiệm kỳ, các cấp ủy kiểm tra 4.925 lượt tổ chức đảng và 5.290 lượt đảng viên; giám sát 708 lượt tổ chức đảng và 11.096 lượt đảng viên. ủy ban kiểm tra các cấp, kiểm tra 662 tổ chức đảng và 2.341 đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm (trong đó 1.241 đảng viên là cấp ủy viên các cấp); giám sát 848 tổ  chức đảng và 337 cấp ủy viên; đã thi hành kỷ luật khai trừ 109, xử lý bằng pháp luật 85 đảng viên; góp phần tích cực giáo dục, ngăn ngừa cán bộ, đảng viên vi phạm, củng cố lòng tin trong Đảng bộ và nhân dân.

Tổ chức bộ máy làm công tác dân vận được kiện toàn, hoạt động có hiệu quả. Phương thức lãnh đạo của các cấp ủy đảng tiếp tục được đổi mới, phát huy tốt hơn tính chủ động, sáng tạo và bảo đảm hoạt động theo quy định trong hệ thống chính trị. Dân chủ trong Đảng được phát huy; phong cách, lề lối làm việc sâu sát cơ sở, gần gũi nhân dân hơn; kiểm tra, đôn đốc được tăng cường.

Những hạn chế, khuyết điểm

Kinh tế tăng trưởng nhanh nhưng thiếu đồng bộ, chưa vững chắc; sản xuất nông nghiệp chuyển dịch cơ cấu chưa mạnh, tiêu thụ sản phẩm khó khăn; công nghiệp còn dàn trải, chưa có dự án lớn mang tính mũi nhọn, đầu tàu. Các dịch vụ, nhất là dịch vụ du lịch phát triển chưa tương xứng với lợi thế; hạ tầng kinh tế - xã hội còn nhiều bất cập, thiếu đồng bộ, nhất là hạ tầng giao thông, thủy lợi, du lịch, thể dục, thể thao.

Chất lượng giáo dục - đào tạo, nhất là đào tạo nghề, khám chữa bệnh cho nhân dân, ứng dụng khoa học, công nghệ chưa đáp ứng yêu cầu của sự phát triển; tình trạng ô nhiễm môi trường còn bức xúc; các tệ nạn xã hội vẫn chưa được đẩy lùi. Cuộc vận động xây dựng và chỉnh đốn Đảng còn những mặt hạn chế, nội dung sinh hoạt chi bộ ở cơ sở còn nghèo nàn; tự phê bình và phê bình ở một số tổ chức cơ sở đảng còn hình thức, ít tác dụng; năng lực, phẩm chất của một bộ phận cán bộ, đảng viên còn yếu.

Những bài học kinh nghiệm

Một là, quán triệt và tổ chức triển khai thực hiện nghiêm túc các chủ trương, đường lối, quan điểm và nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; tập trung trí tuệ, vận dụng sáng tạo, phù hợp, đề ra được những chủ trương, giải pháp đúng, đồng bộ, sát thực tiễn, hợp lòng dân. Lãnh đạo, chỉ đạo nhạy bén sáng tạo và kiên quyết; tạo sự đồng thuận cao, phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị, của toàn xã hội và thế mạnh của từng địa phương.

Hai là, thường xuyên quan tâm chăm lo củng cố, xây dựng Đảng cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Thực sự phát huy dân chủ, giữ vững nguyên tắc, kỷ luật, kỷ cương, đoàn kết thống nhất, gắn bó mật thiết với nhân dân; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên vững về chính trị, tư tưởng, trong sáng về đạo đức, lối sống, có sức chiến đấu cao, thành thạo chuyên môn nghiệp vụ; coi trọng công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và các quyết định của tỉnh; phát huy hiệu lực, hiệu quả hoạt động chỉ đạo, điều hành của chính quyền các cấp; tính chủ động, tích cực, sáng tạo của MTTQ và các đoàn thể nhân dân.

Ba là, coi trọng chất lượng, hiệu quả tăng trưởng và phát triển bền vững; kết hợp chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. Nâng cao chất lượng và hiệu quả của nền kinh tế, duy trì tốc độ tăng trưởng hợp lý; tăng cường huy động các nguồn lực, sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả để đẩy nhanh phát triển kinh tế. Chú trọng thẩm định, chọn lọc các dự án đầu tư có năng lực, hàm lượng công nghệ cao, hiệu quả kinh tế lớn, thân thiện với môi trường. Bảo đảm an sinh xã hội, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; gắn phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, củng cố quốc phòng, an ninh.

B. Phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp 5 năm 2010 - 2015

Đại hội nhất trí:

Mục tiêu tổng quát: Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, toàn diện và đồng bộ, nhất là công tác quy hoạch, đào tạo cán bộ; nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ; xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; phát huy sức mạnh toàn dân, khai thác lợi thế, huy động nguồn lực, chủ động hội nhập, đẩy mạnh CNH, HĐH, xây dựng đồng bộ hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội; tăng trưởng kinh tế cao, chất lượng và bền vững; xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh, bảo đảm trật tự an toàn xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng vững chắc để Hưng Yên cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp trước năm 2020.

Những chỉ tiêu cơ bản:

Tăng trưởng bình quân năm: GDP tăng 12,5%; giá trị sản xuất nông nghiệp tăng 4% - công nghiệp tăng 19% - dịch vụ tăng 16%; kim ngạch xuất khẩu tăng 17% (đạt 1 tỷ USD vào năm 2015);

Đến năm 2015: Cơ cấu kinh tế: nông nghiệp 17,05% - công nghiệp, xây dựng 50% - dịch vụ 32,95%; cơ cấu lao động: nông nghiệp 43% - công nghiệp, xây dựng 30% - dịch vụ 27%; thu nhập bình quân đầu người (GDP) đạt 43,6 triệu đồng (tương đương 2.500 USD); tổng thu ngân sách trên địa bàn đạt 6.000 tỷ đồng (trong đó thu nội địa đạt trên 5.000 tỷ đồng); tỷ lệ phát triển dân số giữ mức dưới 1%; tỷ lệ hộ nghèo còn 1%; tạo thêm việc làm mới cho 11 vạn lao động (2,2 vạn/năm); 55% lao động trong độ tuổi được đào tạo nghề; 80% số làng, khu phố văn hóa; 85% số cơ quan, đơn vị và hộ đạt gia đình văn hóa; 30% số trường mầm non, 80% số trường tiểu học, 55% số trường THCS và 30% số trường THPT đạt chuẩn quốc gia; 100% xã đạt chuẩn quốc gia về y tế; cơ bản chuẩn hóa đội ngũ cán bộ chuyên trách, công chức cấp xã và hoàn thành các thiết chế văn hóa, thể thao cấp tỉnh, cấp huyện. Thành phố Hưng Yên có bản đạt tiêu chí của đô thị loại 2, xây dựng Phố Nối thành thị xã công nghiệp - dịch vụ và khu vui chơi Bô Thời thành đô thị loại IV.

Hàng năm tổ chức cơ sở đảng đạt TSVM 80%; chính quyền cấp xã vững mạnh 80%; đoàn thể đạt vững mạnh 85%.

Những nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu:

1. Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH - HĐH, phát triển nhanh và bền vững gắn với tập trung xây dựng đồng bộ kết cấu hạ tầng, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế.

Phát triển nông nghiệp toàn diện theo hướng CNH, HĐH gắn với xây dựng nông thôn mới. Hoàn thiện công tác quy hoạch phát triển tổng thể kinh tế - xã hội; quy hoạch ngành, lĩnh vực gắn với quy hoạch vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ để phát huy tiềm năng, thế mạnh của từng vùng với tầm nhìn chiến lược dài hạn. Tiếp tục đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, hiệu quả và bền vững; hình thành các khu nông nghiệp công nghệ cao, vùng chuyên canh, thâm canh, sản xuất hàng hóa chất lượng, an toàn; phát triển mạnh ngành chăn nuôi theo hướng công nghiệp, bán công nghiệp với công nghệ tiên tiến; có chiến lược phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và các loại hình dịch vụ ở nông thôn; tỷ trọng cơ cấu trong nông nghiệp đến 2015: cây lương thực 20% - cây công nghiệp, rau quả 35% - chăn nuôi 45%; xây dựng nông thôn mới theo hướng văn minh; giàu đẹp, kinh tế phát triển, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ, hiện đại; đến 2015 có 25% số xã đạt tiêu chí nông thôn mới.

Phát triển nhanh công nghiệp theo hướng hiện đại, thích ứng và hội nhập với nền kinh tế quốc tế; ưu tiên các dự án lớn, có hàm lượng công nghệ tiên tiến, có sản phẩm và sức cạnh tranh cao, thân thiện với môi trường, đóng góp nguồn thu lớn cho ngân sách. Bố trí hợp lý công nghiệp trên địa bàn, phấn đấu đến năm 2015 số dự án đầu tư vào địa bàn tỉnh có vốn đăng ký 5 tỷ USD.

Phát huy lợi thế, phát triển mạnh các loại hình dịch vụ. Khai thác tối đa thế mạnh các ngành dịch vụ còn nhiều tiềm năng để mở rộng thị trường; đầu tư xây mới, nâng cấp các trung tâm thương mại, chợ đầu mối ở thành phố, thị trấn và những trọng điểm kinh tế, thương mại sôi động, gắn kết chặt chẽ với thị trường Hà Nội và các thành phố lớn. Thiết lập hệ thống phân phối trên thị trường bán lẻ; ưu tiên phát triển dịch vụ phụ trợ, phục vụ phát triển công nghiệp; đẩy mạnh phát triển dịch vụ du lịch.

Nâng cao hiệu quả hoạt động tài chính, tín dụng và ngân hàng. Khai thác triệt để các nguồn thu, thực hiện thu đúng thu đủ, kịp thời vào ngân sách nhà nước. Đẩy mạnh cải cách hành chính trong thu, chi ngân sách; phấn đấu cân đối được nhiệm vụ thu, chi ngân sách địa phương. Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về tiền tệ, tín dụng, ngân hàng, bảo đảm tốc độ tăng nguồn vốn huy động bình quân 27%/năm, dư nợ cho vay tăng 25%, mở rộng cho các thành phần kinh tế được vay vốn.

Tập trung đầu tư xây dựng, tạo bước đột phá về kết cấu hạ tầng, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Để bảo đảm mục tiêu tăng trưởng bình quân 12,5%/năm, tổng mức vốn đầu tư cho phát triển trong 5 năm cần 125 nghìn tỷ đồng. Huy động tối đa và sử dụng hợp lý các nguồn vốn đầu tư, có trọng tâm, trọng điểm; tập trung đầu tư những công trình trọng điểm, quan trọng, tạo động lực mới để Hưng Yên có bước phát triển đột phá. Đồng thời, đầu tư xây dựng đồng bộ hạ tầng giao thông, thủy lợi, văn hóa, thể thao, trường học, bệnh viện bảo đảm phát triển kinh tế - xã hội.

Phát triển mạnh các thành phần kinh tế, các loại hình doanh nghiệp, kinh tế tập thể với nhiều hình thức đa dạng theo nguyên tắc tự nguyện, cùng có lợi; hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các trang trại, hộ sản xuất kinh doanh, nhất là trong nông nghiệp và khu vực nông thôn, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế.

2. Phát triển lĩnh vực văn hóa - xã hội, xây dựng Hưng Yên trở thành trung tâm đào tạo nguồn nhân lực của khu vực.

Phát triển giáo dục theo quy hoạch, bảo đảm cân đối về quy mô, loại hình đào tạo; duy trì Hưng Yên thuộc nhóm các tỉnh dẫn đầu về giáo dục của cả nước. Đặc biệt quan tâm đến chất lượng giáo dục toàn diện; bảo đảm 100% phòng học phổ thông và 55% phòng học mầm non kiên cố, cao tầng. Đẩy nhanh tiến độ xây dựng khu đại học Phố Hiến sớm đi vào hoạt động, phấn đấu đến 2015 thu hút khoảng 3-5 trường đại học về đầu tư và hoạt động. Tạo chuyển biến mạnh về quy mô, chất lượng đào tạo, dạy nghề theo hướng tiếp cận với công nghệ hiện đại và đào tạo nghề phổ thông.  Thực hiện có hiệu quả đề án của Chính phủ về đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020; phấn đấu đến 2015, lao động trong độ tuổi qua đào tạo nghề đạt 55%.

Nâng cao chất lượng, hiệu quả việc nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng các tiến bộ khoa học - công nghệ vào sản xuất và đời sống; mở rộng chương trình ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của các cấp; tăng cường công tác quản lý và bảo vệ môi trường, xây dựng chế tài đủ mạnh để ngăn ngừa, xử lý các hành vi vi phạm và gây ô nhiễm môi trường.

Tiếp tục nâng cấp, hoàn thiện hệ thống y tế từ tỉnh đến cơ sở, đa dạng hóa các loại hình dịch vụ chăm sóc sức khỏe nhân dân. Nâng cao chất lượng khám và điều trị của các cơ sở y tế, giảm tỷ lệ bệnh nhân chuyển tuyến trên. Tăng cường hệ thống y tế dự phòng; tạo điều kiện phát triển gắn với tăng cường quản lý hành nghề y, dược tư nhân. Phấn đấu 100% trạm xá xã có bác sĩ; nâng cao chất lượng dân số, bảo đảm tỷ lệ phát triển dân số ổn định ở mức dưới 1%, tăng cường quản lý về sinh sản giới tính. Chăm sóc tốt sức khỏe bà mẹ, trẻ em, giảm tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng.

Khuyến khích các hoạt động văn hóa, văn nghệ. Gắn kết chặt chẽ giữa mở rộng hợp tác đầu tư kinh tế với hợp tác lĩnh vực văn hóa, để quảng bá, thu hút nguồn lực phát triển văn hóa đặc sắc của Phố Hiến - Hưng Yên. Đẩy mạnh cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa", nâng cao chất lượng xây dựng làng, khu phố, cơ quan, đơn vị, gia đình văn hóa. Huy động các nguồn lực để trùng tu, tôn tạo, giữ gìn, phát huy giá trị các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể. Đẩy nhanh tiến độ triển khai thực hiện dự án quy hoạch bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị đô thị cổ Phố Hiến gắn với phát triển du lịch, đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của cơ quan báo chí, phát thanh truyền hình, thể dục, thể thao.

Đẩy mạnh chương trình giảm nghèo, thực hiện tốt chính sách đối với người có công với cách mạng. Khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển, tạo thêm nhiều việc làm mới cho người lao động. Phấn đấu đến 2015 tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị giảm còn 3%, tăng quỹ thời gian sử dụng lao động ở nông thôn lên 85%; cơ cấu lao động: nông nghiêp 43% - công nghiệp, xây dựng 30% - dịch vụ 27%.

3. Tăng cường tiềm lực quốc phòng, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

Kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng, an ninh trong quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Xây dựng khu vực phòng thủ và thế trận lòng dân vững chắc trong thực hiện chiến lược bảo vệ Tổ quốc. Giữ vững ổn định chính trị và bảo đảm trật tự an toàn xã hội trong mọi tình huống; phối hợp các lực lượng, giải quyết kịp thời các điểm nổi cộm, bức xúc không để lan rộng, phát sinh thành "điểm nóng". Tạo bước chuyển biến tích cực trong lĩnh vực trật tự an toàn xã hội, an toàn giao thông, trật tự công cộng, phòng chống các tệ nạn xã hội, nhất là tệ nạn ma túy.

4. Nâng cao hiệu quả quản lý, điều hành của chính quyền các cấp

Tiếp tục nâng cao hiệu quả hoạt động của HĐND, hiệu lực điều hành của UBND các cấp. Đẩy mạnh cải cách hành chính, xây dựng nền hành chính thống nhất, thông suốt, vững mạnh, hiệu lực, hiệu quả. Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cả về phẩm chất đạo đức, năng lực lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, quản lý nhà nước. Xây dựng chính quyền thực sự của dân, do dân, vì dân.

Đẩy mạnh cải cách tư pháp, nâng cao chất lượng công tác điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, chất lượng tố tụng, thực hành quyền công tố và tranh tụng tại tòa. Tăng cường các biện pháp và chủ động phòng, chống tham nhũng, lãng phí, thực hành tiết kiệm.

5. Phát huy vai trò của MTTQ và các đoàn thể nhân dân

Xây dựng MTTQ và các đoàn thể nhân dân thực sự vững mạnh, làm nòng cốt trong hoạt động, tập hợp và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, tổ chức và vận động nhân dân thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Có cơ chế thích hợp để MTTQ và các đoàn thể nhân dân làm tốt chức năng giám sát, phản biện xã hội, thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở.

6. Nâng cao năng lực lãnh đạo toàn diện của Đảng bộ

Giữ vững bản lĩnh chính trị; nâng cao trình độ, trí tuệ của Đảng bộ và của mỗi cán bộ, đảng viên. Chống giáo điều, bảo thủ, trì trệ hoặc chủ quan nóng vội, vô nguyên tắc. Tăng cường tổng kết thực tiễn, đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao tính chiến đấu, tính thuyết phục, hiệu quả của công tác tư tưởng. Đẩy mạnh thực hiện có hiệu quả cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh"; nhân rộng những điển hình tiên tiến gắn cuộc vận động với nhiệm vụ xây dựng chỉnh đốn Đảng với cuộc đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí. Tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng cơ sở đảng trong sạch vững mạnh, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên. Chú trọng xây dựng tổ chức cơ sở đảng thực sự trong sạch, vững mạnh. Nâng cao chất lượng tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt đảng.

Chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ; chú trọng công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, sử dụng, khen thưởng, kỷ luật và chính sách cán bộ; trong đó tăng cường luân chuyển cán bộ, bảo đảm tính liên tục, kế thừa, phát triển và trẻ hóa. Nêu cao trách nhiệm của cấp ủy đảng về quản lý cán bộ và vai trò của người đứng đầu trong công tác cán bộ. Chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ lãnh đạo quản lý, cán bộ nữ, cán bộ chuyên môn đầu ngành có kiến thức và năng lực hoạt động, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Nâng cao chất lượng và tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Đảng. Tập trung kiểm tra đảng viên và tổ chức đảng cấp dưới khi có dấu hiệu vi phạm; giải quyết kịp thời, dứt điểm đơn thư khiếu nại, tố cáo. Đẩy mạnh công tác giáo dục, phòng ngừa, ngăn chặn và đấu tranh với những hành vi vi phạm kỷ luật Đảng và pháp luật của Nhà nước. Xử lý kịp thời và nghiêm minh đối với những trường hợp vi phạm kỷ luật Đảng.

Tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác dân vận. Quan tâm chăm lo đào tạo, bồi dưỡng và có cơ chế, chính sách phù hợp đối với cán bộ làm công tác dân vận; bảo đảm có trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kiến thức, kỹ năng về công tác dân vận; phát huy vai trò, hiệu quả công tác tham mưu và làm nòng cốt trong công tác dân vận.

Đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo của các cấp ủy đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị. Khắc phục tình trạng Đảng bao biện, làm thay hoặc buông lỏng lãnh đạo các cơ quan quản lý nhà nước. Đổi mới phong cách, lề lối làm việc của các cơ quan của Đảng từ tỉnh đến cơ sở. Thực hiện tốt chế độ lãnh đạo tập thể đi đôi với phát huy tinh thần chủ động sáng tạo và trách nhiệm cá nhân, nhất là trách nhiệm của người đứng đầu.

II- Thông qua báo cáo kiểm điểm sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XVI. Từ kinh nghiệm của khóa trước, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XVII cần tiếp tục phát huy ưu điểm, tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác cho nhiệm kỳ tới.

III. Thông qua báo cáo tổng hợp ý kiến của đại hội Đảng các cấp đóng góp vào dự thảo các văn kiện trình Đại hội XI của Đảng. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XVII tổng hợp ý kiến thảo luận tại đại hội để bổ sung, hoàn chỉnh văn bản, báo cáo Ban Chấp hành Trung ương.

IV- Thông qua kết quả bầu Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XVII gồm 55 đồng chí và bầu Đoàn đại biểu đi dự Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng gồm 18 đại biểu chính thức và 2 đại biểu dự khuyết. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XVII hoàn chỉnh hồ sơ về kết quả bầu cử, báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các Ban Đảng  Trung ương có liên quan để quyết định chuẩn y theo quy định.

V- Giao Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XVII  căn cứ vào Nghị quyết Đại hội và Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng, rà soát và tiếp tục thực hiện có hiệu quả các chương trình, đề án của khóa XVI đã đề ra; xây dựng chương trình hành động, các chương trình, đề án, kế hoạch công tác để nhanh chóng đưa Nghị quyết Đại hội vào thực tiễn cuộc sống.

Đại hội Đảng bộ tỉnh khóa XVII kêu gọi toàn Đảng, toàn dân và các lực lượng vũ trang trong tỉnh tiếp tục phát huy truyền thống của Đảng bộ, đoàn kết, thống nhất, khắc phục khó khăn, nêu cao tinh thần chủ động, sáng tạo, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, quyết tâm phấn đấu hoàn thành thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ mà Nghị quyết Đại hội lần thứ XVII Đảng bộ tỉnh đề ra, góp phần xứng đáng cùng cả nước thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng trong thời kỳ mới.

Đại hội đại biểu lần thứ XVII Đảng bộ tỉnh Hưng Yên

 

Tổng số trang1-20 (of 55)
Page:1 - 2 - 3.  Trước · Tiếp