2    7    2    7    7    3    
BẢN TIN THÔNG BÁO NỘI BỘ
Số: 213 - 2014
MỤC LỤC
Văn kiện Đảng/ Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII

  Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội đại biểu

toàn quốc lần thứ VII

 

Đại hội lần thứ VI của Đảng đã đề ra đường lối đổi mới các lĩnh vực của đời sống xã hội, mở ra bước ngoặt trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta.

Từ nhiều năm trước Đại hội VI, nước ta đã lâm vào cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội nặng nề mà biểu hiện rõ nhất là lạm phát ở mức độ cao, lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng lưuôn lưuôn căng thẳng, đời sống nhân dân rất khó khăn, niềm tin giảm sút... ý nghĩa to lớn của Đại hội VI là đã phân tích đúng đắn nguyên nhân của tình hình, vạch ra các giải pháp lớn để từng bước thoát khỏi tình trạng đó, đáp ứng nguyện vọng chính đáng của nhân dân.

Trong quá trình thực hiện Nghị quyết Đại hội VI, những diễn biến quốc tế phức tạp đã tác động đến tình hình kinh tế, xã hội và chính trị, tư tưởng của nhân dân ta. Quan hệ kinh tế đối ngoại trên một số mặt bị đảo lộn, sự trợ giúp quốc tế giảm đi đáng kể. Đất nước ta vẫn chưa thoát khỏi sự bao vây về kinh tế của một số thế lực bên ngoài.

Trung thành với lý tưởng xã hội chủ nghĩa và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam đã tìm tòi, khai phá con đường đổi mới chưa có một khuôn mẫu cho trước, từng bước đưa đường lối Đại hội VI đi vào cuộc sống và đã đạt được những thành tựu bước đầu quan trọng. Những thành tựu đó được cảm nhận ở từng người, từng gia đình, từng địa phương và được bạn bè quốc tế thừa nhận. Mặc dù những khó khăn trở ngại còn nhiều, nhưng những thành tựu đổi mới đã xác nhận khả năng tự đổi mới của Đảng Cộng sản và nhân dân Việt Nam.

Đại hội VII có nhiệm vụ tổng kết việc thực hiện Nghị quyết Đại hội VI, chỉ ra những việc làm được, những việc có thể làm nhưng chưa làm được, những vấn đề mới nảy sinh, những ưu điểm, khuyết điểm, nguyên nhân và kinh nghiệm trên các lĩnh vực chủ yếu của đời sống xã hội. Trên cơ sở đó, Đại hội VII sẽ hoàn chỉnh, nâng cao hơn các chủ trương đổi mới do Đại hội VI đề ra, chỉ ra các phương hướng và nhiệm vụ lớn cho toàn Đảng và toàn dân ta trong 5 năm tới.

Đất nước ta đang đứng trước thời điểm đầy thách thức, nhiệm vụ rất nặng nề, nhưng triển vọng cũng lớn lao. Đại hội VII của Đảng sẽ làm hết sức mình để làm tròn nhiệm vụ nói trên, đáp ứng lòng mong đợi của toàn Đảng và toàn dân ta.

Phần thứ nhất

THỰC HIỆN ĐỔI MỚI CÁC LĨNH VỰC CỦA ĐỜI SỐNG XÃ HỘI

I- Đổi mới về kinh tế

Nghị quyết Đại hội VI đề ra những quan điểm cơ bản và những nhiệm vụ lớn về đổi mới kinh tế: bố trí lại cơ cấu sản xuất, điều chỉnh lớn cơ cấu đầu tư, tập trung thực hiện các mục tiêu của ba chưương trình kinh tế; sử dụng và cải tạo xã hội chủ nghĩa các thành phần với những hình thức và bước đi thích hợp, làm cho quan hệ sản xuất phù hợp và thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển; đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, xoá bỏ cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp, chuyển sang cơ chế hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa; giải quyết những vấn đề cấp bách về phân phối lưu thông, giảm dần, đi tới chấm dứt lạm phát.

Trong quá trình triển khai đổi mới các lĩnh vực của đời sống, Đảng ta đã đặt trọng tâm vào đổi mới kinh tế.

1. Thành quả quan trọng nhất là đã bước đầu hình thành nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường dưới sự quản lý của Nhà nước. Đã khắc phục cơ bản cơ chế quản lý tập trung, quan liêu, bao cấp mà khâu trung tâm là xoá bao cấp qua giá, chuyển sang mua bán bình thường. Trung ương và địa phương, Nhà nước và nhân dân, quốc doanh và các thành phần kinh tế khác cùng khai thác các tiềm năng, giải quyết các nhu cầu của xã hội. Quyền tự chủ và sự năng động của các cơ sở kinh tế tăng lên rõ rệt. Việc quản lý, điều hành của Nhà nước được đổi mới, đúng chức năng, nhạy bén và có hiệu quả hơn.

Việc đổi mới cơ chế quản lý kinh tế là nguyên nhân cơ bản nhất của những thành tựu kinh tế.

2. Tình hình lương thực - thực phẩm có chuyển biến tốt. Từ chỗ thiếu ăn triền miên, năm 1988 còn phải nhập gần 50 vạn tấn gạo, nay chúng ta không những đáp ứng được nhu cầu trong nước, mà còn có dự trữ và xuất khẩu. Các ngành chăn nuôi, thuỷ sản, một số cây công nghiệp phát triển khá. Thực phẩm được cung ứng tốt hơn. Chuyển biến của tình hình lương thực - thực phẩm vừa là kết quả của sản xuất tăng lên, vừa là kết quả của việc xoá bỏ chế độ bao cấp, thực hiện tự do lưu thông, điều hoà cung - cầu trên phạm vi cả nước. Chuyển biến này đã góp phần quan trọng ổn định đời sống của nhân dân, cải thiện cán cân xuất, nhập khẩu, tạo điều kiện thuận lợi cho nông nghiệp nước ta phát triển kinh tế hàng hoá đưa dạng.

Song, hiện nay và trong những năm tới, chúng ta không thể chủ quan lơi lỏng nhiệm vụ sản xuất và điều hoà lương thực - thực phẩm, nó vẫn là nhiệm vụ trọng tâm trong chiến lược phát triển nông nghiệp toàn diện.

3. Hàng hoá trên thị trường dồi dào, đa dạng và lưu thông tương đối thuận lợi, trong đó, nguồn hàng sản xuất trong nước có tăng hơn trước và tiến bộ rõ về mẫu mã và chất lượng.

Một số sản phẩm tư liệu sản xuất như điện, dầu thô, ximăng, thép cán, thiếc, tầu biển, nông cụ cầm tay... tăng khá. Hoạt động của các ngành công nghiệp có sự chuyển biến về chất: sản xuất gắn chặt hơn với nhu cầu thị trường; khắc phục được một phần quan trọng sự bao cấp về vốn, giá vật tư, tiền lương, về tiêu thụ sản phẩm...

Tuy nhiên, sản xuất công nghiệp, trong đó có sản xuất hàng tiêu dùng tăng chậm (bình quân hằng năm sản xuất hàng tiêu dùng chỉ tăng 5,3% so với kế hoạch là 13-15%). Nhiều cơ sở sản xuất, nhất là các cơ sở tiểu thủ công nghiệp và công nghiệp quốc doanh địa phương đang thiếu vốn, trang bị kỹ thuật lạc hậu, chất lượng sản phẩm chậm cải tiến, giá thành sản phẩm cao, lại bị hàng ngoại chèn ép, thiếu thị trường tiêu thụ nên sản xuất đình đốn, lúng túng trong việc chuyển sang cơ chế mới.

4. Đã mở rộng một bước kinh tế đối ngoại, kim ngạch xuất khẩu tăng khá (gấp 2,1 lần 5 năm 1981-1985, so với mục tiêu kế hoạch là 1,7 lần), nhất là xuất khẩu sang các nước không phải xã hội chủ nghĩa; thu hẹp đáng kể tỷ lệ chênh lệch giữa xuất khẩu và nhập khẩu, từ 1/2,6 năm 1985 đến năm 1990 chỉ còn 1/1,2. Từng bước phá thế bị bao vây về kinh tế, thu hút được một số vốn đầu tư của nước ngoài. Sự cải thiện cán cân thanh toán quốc tế tuy chưa đủ để cân bằng thu, chi ngoại tệ, song đã tạo cơ sở để giảm bớt những tác động phức tạp của tình hình quốc tế hiện nay.

5. Đẩy lùi và kiềm chế một bước lạm phát, giảm đáng kể nhịp độ tăng giá. Nếu chỉ số tăng giá bình quân hằng tháng của thị trường xã hội những năm 1986, 1987 là 10-20% thì năm 1989 còn 2,6%, năm 1990 là 4,2%. Nhờ đó, các cơ sở kinh tế có điều kiện thuận lợi hơn để hạch toán kinh doanh, đời sống nhân dân bớt khó khăn.

Thành tựu nói trên càng có ý nghĩa vì chúng ta chống lạm phát trong hoàn cảnh nguồn trợ giúp bên ngoài giảm so với trước; vừa chống lạm phát, vừa thực hiện chuyển từ giá bao cấp sang giá kinh doanh.

Tuy nhiên kết quả kiềm chế lạm phát chưa vững chắc. Gần đây do nhiều nguyên nhân, đặc biệt là do tác động của tình hình thế giới, chỉ số giá đã và đang tăng lên. Tiếp tục chống lạm phát vẫn còn là một nhiệm vụ hết sức nặng nề.

Bên cạnh những thành tích và tiến bộ, nền kinh tế nước ta vẫn còn nhiều khó khăn và yếu kém.

1. Hiệu quả sản xuất kinh doanh tuy có tăng nhưng nhìn chung còn thấp. Nền kinh tế chưa ra khỏi tái sản xuất giản đơn. Tốc độ tăng thu nhập quốc dân sản xuất không hơn mấy nhịp độ tăng dân số (2,8% so với 2,2%/năm). Hệ số sử dụng công suất thiết bị thấp. Nhiều cơ sở sản xuất kinh doanh làm ăn thua lỗ. Tình trạng hư hao, thất thoát trong nền kinh tế rất nghiêm trọng.

2. Nền kinh tế mất cân đối lớn trên một số mặt quan trọng còn phụ thuộc nặng vào bên ngoài. Xuất khẩu chưa đáp ứng được nhu cầu nhập khẩu. Một phần đáng kể ngân sách, bao gồm toàn bộ quỹ tích lũy tập trung phải dựa vào nguồn vay nợ. Mặc dù đã phải hạn chế nhiều khoản chi cho nhu cầu bức thiết nhưng ngân sách vẫn bội chi lớn.

Quy mô tích lũy quá nhỏ, vốn đầu tư xây dựng cơ bản tập trung của Nhà nước hằng năm bị thu hẹp, không có công trình mới quan trọng nào được khởi công để gối đầu cho 5 năm 1991-1995, trong khi nhu cầu xây dựng kết cấu hạ tầng, tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế rất bức xúc, nhu cầu giải quyết việc làm cho lao động tăng nhanh.

3. Trong quá trình chuyển sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường, bên cạnh những mặt tích cực, đãxuất hiện nhiều hiện tượng tiêu cực mới mà chúng ta chưa lường hết và chưa xử lý tốt. Đó là xu hướng chạy theo lợi nhuận với bất kỳ giá nào dẫn đến vi phạm pháp luật, lừa đảo, làm hàng giả, buôn lậu, trốn thuế, xâm phạm nghiêm trọng tài sản xã hội chủ nghĩa và của công dân; nợ nần dây dưa, chiếm dụng vốn của nhau có những trường hợp không có khả năng thanh toán; hàng loạt hợp tác xã tín dụng vỡ nợ, gây tác hại rất lớn cho nhân dân, xã hội. Đó là xu hướng chạy theo buôn bán nhiều hơn sản xuất, thương mại hoá tràn lan, xâm nhập vào cả các cơ quan văn hoá, y tế, giáo dục, cơ quan nội chính...; kỷ luật, kỷ cương và pháp luật không nghiêm, bất công xã hội tăng, an ninh và trật tự an toàn xã hội diễn biến phức tạp, v.v..

4. Cơ chế quản lý mới bước đầu hình thành nhưng chưa đồng bộ, chưa được thể chế hoá hoàn chỉnh về mặt luật pháp, đặc biệt là hệ thống tài chính, ngân hàng còn lúng túng, bất cập; đội ngũ cán bộ quản lý chưa được đào tạo lại theo yêu cầu của cơ chế mới. Bên cạnh những tiến bộ, sự quản lý và điều hành của nhà nước trên bình diện vĩ mô cũng bộc lộ nhiều mặt yếu kém. Công tác dự đoán, nghiên cứu các tình huống có thể xảy ra và các biện pháp ứng phó còn yếu. Một số chủ trương, chính sách ban hành có nhiều sơ hở nhưng chậm được sửa đổi. Nhà nước quản lý các thành phần kinh tế trong sản xuất kinh doanh, điều hoà cung cầu trên thị trường, quản lý tài chính, tín dụng, xuất nhập khẩu... vừa có mặt gò bó vừa có mặt buông lỏng. Sự phối hợp giữa các ngành, các cấp thiếu chặt chẽ, hiện tượng "trống đánh xuôi, kèn thổi ngược" diễn ra không ít. Tình trạng cán bộ quan liêu, lợi dụng chức quyền để tham nhũng là phổ biến và nghiêm trọng.

Bộ máy nhà nước tuy đã được sắp xếp lại một bước nhưng còn cồng kềnh, nhiều đầu mối, biên chế quá đông, trách nhiệm, nhiệm vụ, quyền hạn của nhiều cơ quan chưa rõ ràng.

Những tiến bộ và yếu kém nói trên có liên quan đến những ưu điểm, khuyết điểm trong việc thực hiện các chủ trương đổi mới trên từng lĩnh vực kinh tế mà Nghị quyết Đại hội VI đã đề ra. Dưới đây là tình hình thực hiện các chủ trương đó.

1. Bố trí lại cơ cấu sản xuất, điều chỉnh cơ cấu đầu t­ư

Nhà nước đã điều chỉnh cơ cấu đầu tư để từng bước bố trí lại cơ cấu sản xuất, đình và hoãn 42 công trình lớn, chiếm một phần tư giá trị thiết bị toàn bộ đã ký với nước ngoài và nhiều công trình khác của các ngành và địa phương để tập trung vốn cho các công trình trọng điểm trực tiếp phục vụ ba chương trình kinh tế hoặc có ý nghĩa trọng yếu đối với nền kinh tế quốc dân. Các ngành, địa phương và cơ sở cũng điều chỉnh, chú trọng xây dựng những công trình quy mô vừa và nhỏ, có hiệu quả nhanh và tăng cường đầu tư chiều sâu. Trong 5 năm, đã dành cho ba chương trình kinh tế khoảng hơn 60% vốn đầu tư của ngân sách trung ương. 75-80% vốn đầu tư của địa phương. Phần đầu tưcủa nhân dân cũng rất lớn, có hiệu quả, góp phần thực hiện ba chương trình kinh tế, nhất là trong sản xuất lương thực - thực phẩm, lâm nghiệp, cây công nghiệp, thuỷ sản, xây dựng nhà ở...

Chủ trương Nhà nước và nhân dân cùng làm đã đem lại những kết quả to lớn, nên mặc dù vốn đầu tư qua ngân sách trung ương giảm mạnh, nhưng xét tổng thể các thành phần kinh tế thì tổng vốn đầu tư trong nền kinh tế không giảm. Các địa phương đã huy động thêm vốn đầu tư bổ sung bằng 30-50% vốn đầu tư theo kế hoạch nhà nước, chưa kể phần vốn tự đầu tư của các cơ sở quốc doanh, các hợp tác xã, kinh tế gia đình và kinh tế tư nhân tự đầu tư hoặc chung vốn sản xuất. Đồng thời cũng đã thu hút được một số vốn đầu tư của nước ngoài.

Cơ cấu kinh tế có một số chuyển biến. nhiều công trình công nghiệp nặng trọng điểm đã được đưa vào sử dụng, tăng thêm năng lực sản xuất cho nền kinh tế, như các nhà máy nhiệt điện Phả Lại, thuỷ điện Hoà Bình, thuỷ điện Trị An, ximăng Hoàng Thạch, Bỉm Sơn và Hà Tiên... Đã hình thành một số ngành sản xuất mới, có triển vọng tốt, như dầu khí, đóng và sửa chữa tàu, thuyền, công nghiệp gia công xuất khẩu hàng may mặc, công nghiệp lắp ráp hàng điện tử, nuôi và chế biến tôm... Trong nông nghiệp, xuất hiện một số vùng sản xuất tập trung, có sản phẩm hàng hoá lớn như các vùng sản xuất lương thực, trồng cây công nghiệp dài ngày (cao su, chè, cà phê, điều...), các vùng đánh bắt và nuôi trồng hải sản... Nhiều cơ sở sản xuất công nghiệp bước đầu tự sắp xếp lại sản xuất và lao động, phát triển kinh doanh tổng hợp, đưa dạng hoá sản phẩm. Một số loại hình kinh tế dịch vụ mới ra đời góp phần thúc đẩy kinh tế hàng hoá và phục vụ đời sống nhân dân.

Tuy vậy, sự chuyển biến về cơ cấu đầu tư và cơ cấu kinh tế chưa nhiều.

Do nguồn vốn đầu tư từ ngân sách quá eo hẹp, cơ cấu đầu tư cũ để lại quá nhiều công trình chuyển tiếp, nên nhìn chung vốn đầu tư vẫn bị xé lẻ, ngành và địa phương nào cũng thiếu vốn đầu tư, hạn chế việc thay đổi cơ cấu đầu tư theo yêu cầu mới cho mặt trận nông nghiệp, sản xuất hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu, cơ sở hạ tầng..., thiếu khả năng đầu tư chiều sâu để đổi mới công nghệ. Tình trạng đầu tư phân tán, thi công kéo dài, kém hiệu quả ở các ngành và các địa phương còn phổ biến. Đáng chú ý là trong 5 năm 1985-1989 đã bố trí xây dựng 370 trụ sở và hơn 60 nhà khách bằng vốn ngân sách nhà nước cấp, chiếm 17% vốn đầu tư xây dựng cho khu vực không sản xuất vật chất.

Cơ chế đầu tư theo lối bao cấp của Nhà nước về cơ bản chưa được khắc phục, đó là nguyên nhân quan trọng nhất của tình trạng thất thoát và lãng phí rất lớn vốn đầu tư từ ngân sách.

Về cơ cấu kinh tế, tỷ trọng lao động công nghiệp không tăng; dịch vụ thương nghiệp phát triển quá mức; hệ thống công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản chậm phát triển; tình trạng xuất nguyên liệu, nông sản thô còn phổ biến. Nhiều cơ sở làm ăn kém hiệu quả chậm được sắp xếp lại. Kinh tế giữa các vùng phát triển không đều, các vùng có điều kiện cũng chưa phát triển đúng mức.

Những bài học lớn rút ra là: Nhà nước cần bổ sung chính sách, cụ thể hoá phương hướng phát triển và tăng cường kiểm soát để huy động cao nhất và có hiệu quả mọi nguồn đầu tư của toàn xã hội; đổi mới căn bản cơ chế đầu tư xây dựng cơ bản của Nhà nước, kiên quyết xoá bao cấp, có biện pháp hữu hiệu ngăn chặn thất thoát và lãng phí trong sử dụng vốn đầu tư từ ngân sách.

2. Thực hiện chính sách cơ cấu kinh tế nhiều thành phần

Chính sách kinh tế nhiều thành phần của Đại hội VI đã được các nghị quyết của Trung ương, của Bộ Chính trị và các quy định của Hội đồng Bộ trưởng cụ thể hoá, bổ sung và phát triển.

Chính sách này đi vào cuộc sống nhanh, bảo đảm quyền tự do sản xuất, kinh doanh, khơi dậy tiềm năng kinh tế, phát huy tính năng động, sáng tạo của nhân dân để phát triển sản xuất, giao lưu hàng hoá, tạo thêm việc làm và ổn định đời sống, tạo ra sự cạnh tranh sống động trên thị trường.

Kinh tế quốc doanh hiện đang nắm những bộ phận then chốt, có vị trí chi phối nền kinh tế, có tác dụng điều tiết thị trường và giá cả ở một mức độ nhất định. Gần một phần ba các xí nghiệp công nghiệp quốc doanh vươn lên trong kinh doanh và thích ứng được với cơ chế mới. Đã xuất hiện nhiều nông trường, lâm trường làm ăn có hiệu quả.

Điểm yếu nhất của kinh tế quốc doanh là hiệu quả hoạt động nhìn chung còn thấp và chưa thực hiện tốt vai trò chủ đạo. Trong công nghiệp, một bộ phận khá lớn xí nghiệp quốc doanh, nhất là các cơ sở quốc doanh quận, huyện đang rất khó khăn, nhiều đơn vị thương nghiệp quốc doanh kinh doanh thua lỗ. Không ít cơ sở kinh tế quốc doanh bị tư nhân lợi dụng để hoạt động phi pháp.

Nguyên nhân của tình hình trên là do cơ sở vật chất, kỹ thuật của nhiều xí nghiệp quá lạc hậu hoặc đầu tư không đồng bộ, thiếu vốn và thị trường tiêu thụ. Phương án sản xuất, kinh doanh một số xí nghiệp không còn phù hợp với thực tế hiện nay. Một số địa phương phát triển cơ sở quốc doanh tràn lan. Cơ chế quản lý quan liêu, bao cấp cũng để lại hậu quả nặng nề chưa khắc phục ngay được. Thiếu sót lớn trong quản lý kinh tế quốc doanh là buông lỏng quản lý vĩ mô và vi mô về tài chính, từ khâu quản lý tài sản và vốn đến phân phối thu nhập, gây thất thu ngân sách, làm thất thoát tài sản xí nghiệp và hư hỏng cán bộ quản lý. Việc sắp xếp lại và đổi mới quản lý kinh tế quốc doanh, cả sản xuất và lưu thông, tiến hành chậm.

Về kinh tế tập thể, chuyển biến rõ nét nhất là trong nông nghiệp. Thực hiện rộng rãi cơ chế khoán, hộ gia đình xã viên là đơn vị kinh tế tự chủ, được giao quyền sử dụng ruộng đất, bước đầu giải phóng sức sản xuất, khai thác tiềm năng lao động và vốn của nhân dân, đẩy mạnh áp dụng các biện pháp kỹ thuật, mở mang ngành nghề. Một số hộ nông dân bỏ vốn lớn vào các ngành sản xuất và chế biến nông, lâm, hải sản, vận tải và phát triển tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn. Đã xuất hiện một số hình thức hợp tác mới, thuộc nhiều lĩnh vực, cùng hoạt động trên một địa bàn. Thực tiễn khẳng định Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị là đúng đắn, phù hợp với điều kiện kinh tế nước ta và nguyện vọng của nông dân. Thiếu sót lớn hiện nay là có nhiều ban quản lý hợp tác xã và tập đoàn sản xuất lúng túng trong hoạt động, buông lỏng khâu dịch vụ, khoán trắng cho hộ xã viên, vai trò của hợp tác xã trong thực hiện các chính sách xã hội giảm sút. Quyền sử dụng ruộng đất hiện chưa được xác định rõ, ảnh hưởng đến việc ổn định nông thôn và sản xuất. Các vụ tranh chấp ruộng đất tuy đã được tích cực giải quyết, nhưng vẫn còn nhiều vấn đề phức tạp.

Ở thành thị, khoảng 20% các hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp đã vươn lên, thích nghi được với thị trường. Khoảng 20% các hợp tác xã, trong đó có những đơn vị chỉ là kinh tế tập thể về hình thức, chuyển sang hoạt động dưới dạng tư nhân. Một bộ phận lớn các hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp đang bế tắc, nhiều đơn vị muốn giải thể nhưng chưa có chủ trương rõ về xử lý tài sản và bảo hiểm xã hội cho xã viên. Việc chỉ đạo thực hiện Nghị quyết 16 của Bộ Chính trị chưa tốt.

Phần lớn các hợp tác xã mua bán thua lỗ và lúng túng về phương hướng hoạt động.

Nhiều tổ chức tín dụng đô thị ra đời một cách tràn lan, không đúng với Nghị quyết Trung ương 6 (khoá VI) là chỉ cho làm thử ở một vài nơi, đã huy động vốn quá lớn, vượt quá xa vốn góp cổ phần; trong đó có không ít trường hợp làm ăn gian dối, vỡ nợ, mất vốn. Các hợp tác xã tín dụng ở nông thôn nói chung không phát huy được tác dụng, trong khi tình trạng tư nhân cho vay lấy lãi đang phát triển.

Về kinh tế tư nhân, kết quả rõ nhất là nhiều hộ cá thể và tiểu chủ đã bỏ vốn vào sản xuất, kinh doanh, đặc biệt là trong sản xuất ngư nghiệp, cây công nghiệp dài ngày, cây ăn quả, sản xuất hàng tiêu dùng, vận tải, thương nghiệp và dịch vụ... Theo thống kê chưa đầy đủ, đến cuối năm 1989 số xí nghiệp tư nhân có quy mô tương đối khá trong công nghiệp là 1.284 (tăng hơn 4 lần so với năm 1988), số hộ tiểu chủ và cá thể cũng tăng nhiều. Nhưng cho đến nay, nhiều người có vốn lớn vẫn chưa mạnh dạn đầu tư, nhất là vào lĩnh vực sản xuất, vì môi trường kinh doanh chưa bảo đảm và có phần chưa tin vào sự ổn định của chính sách.

Bên cạnh nhiều đơn vị kinh tế tư nhân đóng góp tích cực cho xã hội và làm giàu chính đáng, một số người làm kinh tế tư nhân đã lợi dụng tình trạng khó khăn của nền kinh tế và những sơ hở trong quản lý của Nhà nước, cũng như sự hư hỏng của một số cán bộ, để làm ăn phi pháp, lừa đảo, trốn lậu thuế.

Chính sách kinh tế nhiều thành phần tuy đã đạt được những kết quả quan trọng, nhưng vẫn chưa huy động được đúng mức khả năng lao động và vốn của nhân dân; chưa xây dựng được một hệ thống chính sách đồng bộ; quốc doanh chưa được củng cố; kinh tế hợp tác xã trong một số lĩnh vực bị suy yếu; Nhà nước chưa thực hiện có hiệu quả chức năng định hướng, kiểm soát và điều tiết các thành phần kinh tế, nhất là đối với kinh tế t­ nhân, chậm phát hiện và xử lý các vụ việc tiêu cực; đồng thời vẫn còn những ràng buộc hạn chế sự phát triển.

Qua việc thực hiện chính sách kinh tế nhiều thành phần, chúng ta đã xác lập được hệ thống quan điểm chỉ đạo thực tiễn.

Một là, chính sách cơ cấu kinh tế nhiều thành phần có ý nghĩa chiến lược lâu dài, nhất là trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, là yêu cầu có tính quy luật từ sản xuất nhỏ tiến lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, thể hiện quyền dân chủ về kinh tế, nhân dân được tự do làm ăn theo pháp luật.

Hai là, mỗi hình thức sở hữu về kinh tế có bản chất riêng, nhưng các hình thức tổ chức kinh tế thì đưa dạng. Sự đan xen nhiều hình thức sở hữu, với cơ chế quản lý và phương thức phân phối phù hợp, tạo ra nguồn lực và sức mạnh mới cho các tổ chức kinh tế.

Ba là, các đơn vị kinh tế thuộc mọi thành phần đều có quyền bình đẳng theo pháp luật, vừa hợp tác liên kết, vừa cạnh tranh lành mạnh với nhau để phát triển. Đồng thời Nhà nước cần thực hiện sự ưu tiên cần thiết để tạo điều kiện phát triển thuận lợi đối với những ngành nghề, những địa bàn và những hình thức tổ chức kinh tế cần khuyến khích.

Bốn là, kinh tế quốc doanh phải được củng cố và phát triển, nắm vị trí then chốt trong nền kinh tế, phát huy ưu thế về kỹ thuật và công nghệ, không ngừng nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả, chủ động liên kết và dẫn dắt các thành phần kinh tế khác. Cần tập trung đầu tư của Nhà nước vào những ngành, những lĩnh vực then chốt. Kinh tế quốc doanh cần làm tốt vai trò chủ đạo, chi phối thị trường, song không nhất thiết chiếm tỷ trọng lớn trong mọi ngành nghề.

Năm là, phát triển nhiều loại hình hợp tác xã từ thấp đến cao phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Mọi tổ chức kinh tế, do những người lao động tự nguyện góp vốn, góp sức và được quản lý theo nguyên tắc dân chủ, không phân biệt quy mô, trình độ kỹ thuật, mức độ tập thể hoá tư liệu sản xuất, đều là hợp tác xã. Điều quan trọng là phải kết hợp được sức mạnh của tập thể và sức mạnh của xã viên, thể hiện được tính ưu việt của hợp tác xã.

Sáu là, trong điều kiện nước ta, kinh tế cá thể, tiểu chủ và tư bản tư nhân vẫn cần thiết lâu dài cho nền kinh tế và nằm trong cơ cấu của nền kinh tế hàng hoá đi lên chủ nghĩa xã hội. Tạo điều kiện và khuyến khích các thành phần kinh tế này đầu tư phát triển không hạn chế trong những ngành nghề, những lĩnh vực có lợi cho quốc kế dân sinh, nhưng cần tăng cường sự hướng dẫn, kiểm soát và điều tiết của Nhà nước, hướng tư bản tư nhân vào quỹ đạo chủ nghĩa tư bản nhà nước, ngăn ngừa và khắc phục những hoạt động tiêu cực.

3. Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế

Một thành tựu nổi bật về kinh tế là đã xoá bỏ phần lớn cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp, bước đầu hình thành cơ chế quản lý mới phù hợp hơn với những quy luật khách quan của nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần.

Việc giải quyết thành công vấn đề đổi mới quản lý kinh tế là do chúng ta xuất phát từ thực tiễn của đất nước, rất coi trọng tổng kết kinh nghiệm sáng tạo của quần chúng, vận dụng có chọn lọc những kinh nghiệm quốc tế. Trong quá trình vừa làm, vừa tìm tòi rút kinh nghiệm, chúng ta đã cụ thể hoá và phát triển những quan điểm của Đại hội VI, đã có nhiều quyết sách đúng đắn, tìm ra những hình thức và bước đi thích hợp đưa cơ chế mới vào cuộc sống.

Mặc dầu đang trong quá trình hình thành, cơ chế mới đã góp phần giải phóng lực lượng sản xuất, phát huy các động lực, tính chủ động và sáng tạo của người lao động, làm cho hoạt động kinh tế năng động hơn, đẩy lùi dần cách suy nghĩ và cách làm thụ động, ỷ lại, ít tính toán hiệu quả.

Về đổi mới cơ chế quản lý, có thể sơ bộ nêu lên những nhận xét như sau:

Đã coi trọng tính đồng bộ, tính hệ thống giữa các lĩnh vực, các khâu trong nền kinh tế, đồng thời biết tập trung giải quyết những nhiệm vụ then chốt trong từng thời gian. Cùng với việc sử dụng đầy đủ hơn cơ chế thị trường, mở rộng quyền chủ động sản xuất kinh doanh của cơ sở thuộc các thành phần kinh tế, tiến hành đổi mới quản lý của Nhà nước ở cấp trung ương và tỉnh, thành phố. Hoạt động của các đơn vị kinh tế theo cơ chế thị trường đòi hỏi phải thay đổi sự quản lý của Nhà nước. Mặt khác, sự đổi mới quản lý của Nhà nước tạo ra môi trường kinh tế thuận lợi cho các đơn vị kinh tế.

Quá trình đổi mới cơ chế quản lý kinh tế được tiến hành đồng thời với chống lạm phát, nói một cách khác, kết quả chống lạm phát vừa qua chỉ có thể đạt được trên cơ sở thực hiện cơ chế mới.

Trong toàn bộ các biện pháp đổi mới cơ chế quản lý, cuộc cải cách giá, chuyển từ hệ thống định giá hành chính sang cơ chế giá thị trường, có vị trí trung tâm. Cơ cấu giá và mặt bằng giá đã được thay đổi từng bước hợp lý hơn. Giá cả phản ánh đúng hơn giá trị và quan hệ cung - cầu trên thị trường. Giảm hẳn tình trạng ngân sách bù giá, tình trạng lời giả, lỗ thật và nhiều nhu cầu giả tạo.

Cơ chế giá mới tạo điều kiện và đòi hỏi phải cạnh tranh, sản xuất theo yêu cầu của thị trường, thúc đẩy việc áp dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật, tiết kiệm để hạ giá thành sản phẩm...

Đổi mới chính sách lưu thông để thúc đẩy hình thành thị trường thống nhất trong cả nước. Lương thực - thực phẩm, vật tư hàng hoá được tự do giao lưu góp phần điều hoà cung cầu và bớt chênh lệch về giá cả giữa các vùng trong nước. Thị trường trở nên phong phú, đưa dạng và năng động hơn, có tác dụng kích thích sản xuất, đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng. Tuy nhiên, việc khơi nguồn thị trường tiêu thụ sản phẩm, làm chủ giá cả các mặt hàng tiêu dùng thiết yếu, thích ứng với thị trường thế giới, và lành mạnh hoá thị trường là những vấn đề có nhiều khó khăn và phức tạp phải được giải quyết với bước đi và phương thức thích hợp.

Công tác kế hoạch hoá được đổi mới về cơ bản. Từ kế hoạch pháp lệnh chuyển sang kế hoạch định hướng là chủ yếu, hệ thống chỉ tiêu kế hoạch bằng hiện vật được thu hẹp nhiều, các đòn bẩy kinh tế và lực lượng vật chất được sử dụng để cân đối tổng cung - tổng cầu trong nền kinh tế. Đã bắt đầu tiến hành xây dựng chiến lược kinh tế - xã hội, quy hoạch ngành và vùng, mở rộng thông tin kinh tế, nâng cao vai trò của hợp đồng kinh tế.

Hoạt động tài chính đã có nhiều cố gắng động viên các nguồn thu trên cơ sở sửa đổi hệ thống thuế và thi hành Pháp lệnh về kế toán và thống kê. Các khoản chi có tính chất bao cấp (bù giá, bù lỗ xuất khẩu) giảm rõ rệt, chế độ cấp phát vốn lưu động và cơ chế đầu tư được sửa đổi theo hướng tách bạch rõ tài chính nhà nước và tài chính xí nghiệp. Nhiều cơ sở sau khi đã điều chỉnh giá một số vật tư, nguyên liệu nhập khẩu lên bằng mức giá quốc tế, vẫn hoàn thành nghĩa vụ nộp ngân sách.

Tuy nhiên, cơ chế quản lý hiện nay vẫn còn là một cơ chế quá độ, trong đó những nhân tố mới đã hình thành và phát huy tác dụng, song nhiều yếu tố của cơ chế cũ vẫn chưa khắc phục hết. Những khuyết điểm và yếu kém lớn nổi lên là:

- Chậm tổng kết và đề ra chương trình tiếp tục đổi mới quản lý kinh tế có hệ thống và đồng bộ, đặc biệt là chính sách tài chính quốc gia, tài chính và ngân hàng đang là những khâu yếu kém của nền kinh tế;

- Còn thiếu nhiều luật lệ, chính sách, quy định bảo đảm hoạt động sản xuất, kinh doanh đúng hướng, coi đó là con đường chủ yếu để loại trừ các hiện tượng tiêu cực phát sinh;

- Thiếu nhất quán và còn sơ hở trong một số chính sách đã ban hành. Công tác thanh tra, kiểm tra thiếu chặt chẽ, phát hiện và xử lý những vụ vi phạm chưa kịp thời và chưa nghiêm (điển hình là các vụ tiêu cực lớn ở ngành dự trữ quốc gia, ngân hàng, tín dụng, xuất nhập khẩu, thuế...). Công tác quản lý thị trường có nhiều sơ hở, nạn buôn lậu trầm trọng và kéo dài, thương nghiệp quốc doanh bị tư­ thương lấn át và lũng đoạn;

- Bộ máy quản lý và tổ chức sản xuất, kinh doanh tuy có thu gọn được một số đầu mối, nhưng vẫn còn cồng kềnh, trùng lắp, biên chế đông. Điều hành vĩ mô của Nhà nước còn nhiều nhược điểm, phân công, phân nhiệm giữa các ngành, các cấp còn nhiều bất hợp lý;

- Đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước và quản lý kinh doanh chưa được đào tạo và bồi dưỡng phù hợp với yêu cầu của cơ chế mới.

4. Mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động kinh tế đối ngoại

Đại hội VI chủ trương mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại, đưa phương hoá quan hệ và tham gia ngày càng sâu vào phân công lao động quốc tế, chuyển kinh tế đối ngoại sang hạch toán kinh doanh, tăng cường sự quản lý thống nhất của Nhà nước.

Thực hiện phương hướng trên, Nhà nước đã ban hành Luật đầu tư có sức hấp dẫn và có cơ chế xuất, nhập khẩu thông thoáng hơn; kiên quyết xoá bao cấp, chuyển hoạt động kinh tế đối ngoại sang kinh doanh, thực hiện tỷ giá linh hoạt theo cơ chế thị trường.

Hoạt động kinh tế đối ngoại đã phát triển nhanh, mở rộng hơn trước cả về quy mô, hình thức và có đóng góp quan trọng vào việc thực hiện các mục tiêu kinh tế, xã hội.

Kim ngạch xuất khẩu tăng nhanh từ 698 triệu rúp và đôla năm 1985 lên 2.189 triệu rúp và đôla (trong đó có 1.169 triệu đôla) năm 1990. Từ năm 1989 có thêm các mặt hàng có giá trị lớn như gạo, dầu thô và một số mặt hàng mới có giá trị cao.

Bước đầu đưa dạng hoá các hoạt động kinh tế đối ngoại, mở rộng các hình thức hợp tác hai bên và nhiều bên với các nước. Tính đến hết năm 1990 đã có trên 200 dự án được cấp giấy phép với tổng vốn đầu tư 1.400 triệu đôla.

Đã mở rộng thêm thị trường ngoài thị trường các nước xã hội chủ nghĩa. Đặt quan hệ trực tiếp với một số cơ sở ở các nước cộng hoà của Liên Xô. Quan hệ kinh tế với Lào, Campuchia, Ấn Độ được tăng cường. Phát triển dần việc trao đổi hàng hoá giữa nhân dân các tỉnh ở hai bên biên giới Việt - Trung.

Giảm mạnh mức độ nhập siêu, tăng tỷ trọng ngoại tệ mạnh trong tổng kim ngạch xuất khẩu, giảm đáng kể phần bù lỗ ngân sách cho hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu được một số công trình và thiết bị hiện đại cũng như một số nguyên liệu chiến lược.

Tuy vậy, hoạt động kinh tế đối ngoại còn phải vươn lên nhiều mới có thể đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế. Đến nay chúng ta vẫn chưa tạo được sự chuyển biến rõ về cơ cấu kinh tế và cơ cấu đầu tư gắn với định hướng phát triển kinh tế đối ngoại; thị trường mở ra còn chậm và bấp bênh, chưa có nhiều mặt hàng chủ lực có sức cạnh tranh để chiếm lĩnh thị trường vững chắc, tỷ lệ sản phẩm thô xuất khẩu còn lớn. Ngoại tệ thu được từ xuất khẩu, nhất là ngoại tệ mạnh, chưa được quản lý thống nhất và sử dụng có hiệu quả cho các nhu cầu thiết yếu của nền kinh tế quốc dân; việc hợp tác trên lĩnh vực tài chính, ngân hàng và tín dụng còn rất hạn chế.

Cơ chế quản lý và chính sách đối với hoạt động kinh tế đối ngoại còn nhiều bất hợp lý. Các chính sách và biện pháp về kinh tế đối ngoại, ngoại giao và an ninh chưa phối hợp chặt chẽ. Chưa giải quyết đúng đắn quan hệ lợi ích giữa các cơ sở làm hàng xuất khẩu và các tổ chức kinh doanh xuất, nhập khẩu, trong nhiều trường hợp, lợi ích của người trực tiếp sản xuất hàng xuất khẩu chưa được bảo đảm thoả đáng. Một số cơ sở kinh tế làm ăn kém hiệu quả, nợ nước ngoài đến hạn và quá hạn không có khả năng trả, có nguy cơ phá sản. Sự quản lý của Nhà nước đối với hoạt động kinh tế đối ngoại còn bị động, kém hiệu lực, có khuyết điểm trong quản lý ngoại tệ và chậm giải quyết tình trạng hàng nhập lậu tràn lan. Hệ thống tổ chức xuất nhập khẩu cồng kềnh, nhiều tầng nấc trung gian. Thiếu đội ngũ cán bộ có năng lực, am hiểu thị trường và kinh doanh xuất nhập khẩu.

Từ thực tiễn đổi mới hoạt động kinh tế đối ngoại, có thể rút ra một số kinh nghiệm:

Một là, để phát triển có hiệu quả kinh tế đối ngoại phải gắn thị trường trong nước với thị trường thế giới, giải quyết đồng bộ cơ cấu kinh tế, cơ chế quản lý và kết cấu hạ tầng, giữa phát triển kinh tế và bảo vệ an ninh.

Hai là, đưa phương hoá quan hệ kinh tế đối ngoại, có chính sách mềm dẻo, thích hợp với từng nước và nhóm nước, nhằm không ngừng mở rộng thị trường xuất nhập khẩu và tranh thủ tối đưa các nguồn lực ngoài nước trên cơ sở hai bên cùng có lợi, tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau.

Ba là, đưa dạng hoá các hoạt động kinh tế đối ngoại; tranh thủ sự tài trợ của các nước và các tổ chức tài chính, tín dụng quốc tế trên cơ sở bảo đảm trả được nguồn vay.

Bốn là, thực hiện chính sách cơ cấu kinh tế nhiều thành phần trong hoạt động kinh tế đối ngoại dưới sự quản lý thống nhất của Nhà nước. Cùng với việc phát huy vai trò của kinh tế quốc doanh, khuyến khích các thành phần kinh tế khác tham gia vào hoạt động kinh tế đối ngoại.

Năm là, chuyển toàn bộ hoạt động kinh tế đối ngoại sang cơ chế kinh tế hàng hoá, lấy yêu cầu và điều kiện giao dịch của thị trường quốc tế làm chuẩn mực cho hoạt động sản xuất, hợp tác, kinh doanh với nước ngoài, xây dựng một đội ngũ cán bộ vững vàng về chính trị, trong sạch về phẩm chất, thông thạo về nghiệp vụ kinh tế đối ngoại.

5. Phát huy vai trò động lực của khoa học và công nghệ

Đi đôi với việc đổi mới cơ chế quản lý kinh tế và quản lý khoa học, công tác nghiên cứu và triển khai cố gắng gắn với các yêu cầu cấp bách của sản xuất và đời sống. Các lực lượng khoa học và công nghệ ở các ngành, các địa phương, các trường đại học đã hướng vào ứng dụng các thành tựu khoa học và công nghệ vào sản xuất góp phần quan trọng vào việc phát triển sản xuất, nhất là lĩnh vực nông nghiệp, thuỷ sản, hàng tiêu dùng, nguyên vật liệu; đưa dạng hoá và nâng cao chất lượng sản phẩm góp phần mở rộng khả năng xuất khẩu.

Đã đóng góp có hiệu quả trong việc nâng cao trình độ công nghệ trong một số lĩnh vực sản xuất, tiếp thu và làm chủ được những công nghệ nhập từ nước ngoài, kể cả một số công trình có trình độ hiện đại trong lĩnh vực viễn thông, khai thác dầu khí, giao thông, xây dựng, v.v..

Lực lượng khoa học xã hội đã đi vào nghiên cứu những vấn đề nóng hổi về kinh tế - xã hội, xây dựng luận cứ khoa học cho các chủ trương và quyết định về chống lạm phát, giá cả, thị trường, phát triển có kế hoạch nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần..., góp phần tích cực vào việc soạn thảo Cương lĩnh, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, chiến lược phát triển khoa học và công nghệ.

Phù hợp với yêu cầu đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, cơ chế quản lý khoa học và công nghệ đã bước đầu được đổi mới nhằm gắn khoa học với sản xuất và đời sống; mở rộng quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm của các tập thể và cơ quan khoa học.

Với những kết quả nói trên, khoa học và công nghệ đã phát huy một phần vai trò động lực đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở một số ngành.

Tuy nhiên, phương hướng hoạt động khoa học của nhiều ngành, địa phương và cơ sở còn phân tán, thiếu tập trung vào những trọng điểm, mới cố gắng đi vào giải quyết những vấn đề trước mắt, chưa quan tâm đúng mức những vấn đề cơ bản, lâu dài, chưa kết hợp chặt chẽ giữa khoa học xã hội, khoa học tự nhiên và khoa học kỹ thuật. Khoa học và công nghệ cũng chưa góp phần tạo ra những ngành sản xuất mới làm cơ sở cho việc thay đổi cơ cấu kinh tế.

Chưa có những chính sách tạo môi trường thuận lợi cho việc ứng dụng rộng rãi hơn nữa các thành tựu khoa học và tiến bộ kỹ thuật. Việc chậm đổi mới chính sách sử dụng và đãi ngộ đối với cán bộ khoa học - kỹ thuật đã gây lãng phí lớn nguồn chất xám quý giá của đất nước. Đầu tư tài chính của Nhà nước cho hoạt động khoa học và công nghệ còn quá ít, không bảo đảm điều kiện cần thiết để triển khai các nhiệm vụ trọng điểm và xây dựng tiềm lực khoa học - công nghệ quốc gia. Chưa có cơ chế phù hợp để huy động được nhiều nguồn vốn cho hoạt động khoa học và công nghệ. Việc kiểm tra, giám sát còn chưa thường xuyên và đầy đủ để hạn chế việc sử dụng lãng phí và kém hiệu quả các nguồn lực vật chất dành cho khoa học và công nghệ. Nhiều cán bộ lãnh đạo các ngành, các cấp và cơ sở chưa nhận thức đầy đủ vị trí, vai trò của khoa học và công nghệ, chưa sử dụng khoa học và công nghệ để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.

II- Thực hiện chính sách xã hội

Đại hội VI đã xác định chính sách xã hội bao trùm mọi mặt của cuộc sống con người và phải thực hiện sự thống nhất giữa chính sách kinh tế với chính sách xã hội.

Trong việc thực hiện chính sách xã hội nổi lên một số vấn đề chủ yếu sau đây:

1. Về đời sống của nhân dân

So với 5 năm trước, đời sống của số đông nhân dân ta ở nông thôn và thành thị ổn định hơn. Trên một số mặt thiết yếu của đời sống như ăn, mặc, ở, đồ dùng trong nhà, phương tiện đi lại... có phần được cải thiện.

Từ cuối năm 1988 trở đi, vấn đề lương thực của toàn xã hội đã được giải quyết về cơ bản. Thị trường thực phẩm cũng dồi dào hơn. Về mặc, ngày nay dân ta mặc lành lặn hơn, nhất là ở thành phố. Nhà ở của một bộ phận đáng kể dân cư được cải thiện. ở nông thôn, số hộ có nhà xây, nhà ngói tăng nhiều. Ở các thành phố, thị xã, ngoài phần xây dựng của Nhà nước, nhân dân bỏ tiền ra xây dựng nhiều nhà mới hoặc cơi nới rộng thêm nhà cũ. Nhiều gia đình mua sắm thêm tiện nghi sinh hoạt, kể cả những tiện nghi tương đối hiện đại. Việc đi lại của nhân dân dễ dàng hơn.

Trong nhân dân, không kể bọn tham nhũng, làm ăn phi pháp, đã xuất hiện một tầng lớp có thu nhập cao nhờ biết sản xuất, kinh doanh năng động, nhờ có lao động xuất khẩu hoặc thân nhân ở nước ngoài gửi tiền và hàng về giúp gia đình.

Đời sống tinh thần của nhân dân về một số mặt cũng được cải thiện. Về chính trị, đó là quyền tự do dân chủ, quyền thông tin và nhận thông tin mở rộng hơn trước. Về mặt kinh tế, người dân được tự do làm ăn theo pháp luật, được làm chủ nguồn thu nhập do lao động hợp pháp của mình tạo ra. Việc xoá bỏ chế độ tem phiếu, việc được tự do lựa chọn trong mua sắm hàng hoá đã làm cho con người cảm thấy thoải mái hơn. Đó là những yếu tố đang tạo nên chất lượng mới của cuộc sống.

Tuy nhiên, khi nói đến những biến đổi theo hướng tiến bộ, chúng ta không được đánh giá thấp những khó khăn còn rất lớn trong đời sống của nhân dân.

Nói chung, mức sống của nhân dân ta còn thấp, một bộ phận không nhỏ còn sống dưới nhu cầu tối thiểu. Tỷ lệ số trẻ em suy dinh dưỡng còn lớn. Giáo dục, y tế tiếp tục xuống cấp. Đời sống văn hoá của đông đảo nhân dân lao động ở nông thôn còn nghèo nàn. ở nhiều vùng sâu, vùng cao miền núi đời sống của nhân dân ít thay đổi. Một bộ phận dân cư đời sống có phần khó khăn hơn trước. Chênh lệch về thu nhập giữa các tầng lớp dân cư tăng thêm, có mặt hợp lý, có mặt bất hợp lý. Bên cạnh những người có thu nhập chính đáng, có không ít trường hợp làm giàu bất chính.

Ở nông thôn, nhờ thực hiện các chính sách mới, tỷ lệ thu nhập của xã viên trong giá trị sản phẩm thu hoạch bình quân từ 20-25% trước đây, sau khoán 10 đã tăng lên 35-40%. Đời sống nông dân ở những vùng ít bị thiên tai được cải thiện. Tuy nhiên, tình hình đời sống ở nông thôn không đồng đều. Có khoảng 10% hộ nông dân đời sống vẫn còn rất khó khăn, túng thiếu, nhất là nông dân ở những vùng hay bị thiên tai, một số vùng núi và nơi xa xôi hẻo lánh, những gia đình thuộc diện chính sách ưu đãi, các gia đình neo đơn, những hộ làm ăn kém. Nhà ở của nông dân đồng bằng sông Cửu Long còn đơn sơ.

Công nhân, viên chức, tuỳ theo ngành nghề và đơn vị cụ thể, có mức thu nhập rất khác nhau. Các xí nghiệp đứng vững và phát triển được thì đời sống người lao động ổn định và được cải thiện. Một bộ phận cán bộ, nhân viên khu vực hành chính, sự nghiệp có điều kiện làm dịch vụ, tham gia sản xuất, kinh doanh, hoặc có những điều kiện thuận lợi khác thì đời sống tương đối khá. Ở những xí nghiệp sản xuất ách tắc hoặc thua lỗ thì đời sống người lao động rất khó khăn. Chế độ lương hiện nay còn nhiều bất hợp lý và chưa xoá bỏ hết những yếu tố bao cấp. Tiền lương cơ bản không đủ sống, nên những người hưởng lương của Nhà nước phải tìm nhiều cách bổ sung thu nhập ngoài lương. Tình hình này gây nhiều đảo lộn và bất công trong mối tương quan giữa thu nhập và thành quả lao động, giữa đãi ngộ và cống hiến, trong nhiều trường hợp đã làm triệt tiêu động lực của lao động sáng tạo. Thực tế đòi hỏi phải gấp rút cải cách chế độ lương đã quá bất hợp lý hiện nay.

Những người làm nghề tiểu, thủ công nghiệp, một bộ phận có công ăn việc làm, đời sống được bảo đảm; những cơ sở đang gặp khó khăn trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, người lao động thiếu hoặc không có việc làm thì đời sống đang gieo neo. Những người làm dịch vụ, buôn bán nhìn chung có thu nhập khá.

Khó khăn gay gắt và mức sống bị giảm sút nhiều là những người làm nguồn thu nhập chính dựa vào tiền lương và trợ cấp xã hội, không có nguồn thu nhập nào khác. Phần lớn những người này nằm trong khu vực hành chính, sự nghiệp, lực lượng vũ trang, người về hưu, thương, bệnh binh, gia đình liệt sĩ, neo đơn, những người đã ra khỏi biên chế Nhà nước nhưng chưa tìm được việc làm mới. Gần đây, do giá cả tăng nhanh nên đời sống của nhân dân, nhất là của các đối tượng trên đây, khó khăn thêm.

Năm năm qua, để đáp ứng các nhu cầu đời sống nhân dân, chúng ta đã động viên và phát huy khả năng của toàn xã hội: của Nhà nước và của nhân dân, của các thành phần kinh tế, của mỗi gia đình, mỗi cá nhân. Trong phân phối, khuyến khích người lao động tăng thu nhập và làm giàu chính đáng, chấp nhận sự chênh lệch trong thu nhập do năng suất và hiệu quả lao động. Đó là phương hướng đúng nhằm tạo ra động lực cho sự phát triển, cũng là tạo điều kiện nâng cao mức sống chung của xã hội. Khuyết điểm là thiếu chính sách, biện pháp có hiệu lực để ngăn chặn thu nhập phi pháp và điều tiết mức thu nhập. Mặt khác, tuy mức sống nhân dân ta còn thấp nhưng trong tiêu dùng có những mặt đã vượt quá trình độ của nền kinh tế. Cần nhận rõ, sự cải thiện đời sống phải trên cơ sở phát triển sản xuất và thực hành tiết kiệm, mức tiêu dùng chỉ có thể đạt được trong phạm vi thu nhập quốc dân sản xuất tạo ra.

2. Dân số và việc làm

Nhiều vấn đề xã hội phức tạp ở nước ta có nguyên nhân ở tốc độ phát triển dân số quá cao. Chúng ta chưa đặt nhiệm vụ phấn đấu giảm tốc độ tăng dân số đúng tầm quan trọng của nó, chưa kiên trì làm tốt công tác tuyên truyền, vận động nhân dân, đầu tư phương tiện cho công tác này quá ít và còn thiếu những chính sách nhất quán và có hiệu lực. Do đó, nhịp độ tăng dân số năm 1989 vẫn ở mức 2,29%. Nhiều vùng nông thôn chưa có chuyển biến trong việc hạn chế sinh đẻ. Tốc độ tăng dân số quá nhanh tạo nên áp lực lớn về đời sống và việc làm, cản trở việc thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội, nâng cao mức sống của nhân dân.

Vấn đề việc làm đặc biệt gay gắt. Trong 5 năm qua, chúng ta đã có nhiều cố gắng và có thêm một số kinh nghiệm tốt về giải quyết việc làm. Việc thực hiện chính sách kinh tế nhiều thành phần đã tạo điều kiện giải quyết thêm việc làm, nhất là trong các lĩnh vực nông, lâm, ngưnghiệp, sản xuất hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu, dịch vụ. Đã phát triển nhiều hình thức đào tạo nghề nghiệp, giới thiệu việc làm do Nhà nước, các đoàn thể và cá nhân đứng ra tổ chức. Hình thức thanh niên xung phong đi xây dựng các khu kinh tế mới hoặc đảm nhiệm các công trình xây dựng tiếp tục duy trì và phát triển. Các hình thức quân đội kết hợp làm kinh tế được mở rộng và có hiệu quả hơn. Quan niệm việc làm và giải quyết việc làm trong xã hội được đổi mới; tâm lý bị động, trông chờ, ỷ lại vào sự đào tạo và bố trí việc làm của Nhà nước, chỉ coi trọng việc làm trong biên chế đã giảm. Nhờ những nhân tố ấy, trong 5 năm qua có thêm 4,2 triệu lao động đã tìm được việc làm. Tuy vậy, số người không có việc làm và thiếu việc làm vẫn tăng lên. Đây là một sức ép lớn về kinh tế - xã hội khi chúng ta bước vào kế hoạch 5 năm 1991-1995.

3. Về giáo dục và đào tạo

Thực hiện Nghị quyết của Đại hội VI về tổng kết kinh nghiệm cải cách giáo dục, điều chỉnh và nâng cao chất lượng của cuộc cải cách, ngành giáo dục và đào tạo đã có những quan điểm đổi mới về mục tiêu, nội dung và phương pháp giáo dục, về cơ cấu hệ thống giáo dục. Những kết quả ban đầu được thể hiện ở việc từng bước đưa dạng hoá loại hình giáo dục, đào tạo, dân chủ hoá quản lý nhà trường, tăng cường liên kết nhà trường với xã hội; nội dung giáo dục phổ thông đã được đổi mới, chất lượng lớp 1, lớp 2 và chất lượng trường chuyên, lớp chọn có tiến bộ; quá trình đào tạo đại học và chuyên nghiệp được tổ chức lại và có một số cải tiến; tính tích cực học tập của một bộ phận học sinh, sinh viên được phát huy hơn trước. Nhờ sự nỗ lực của đội ngũ giáo viên, sự đầu tư của Nhà nước, sự đóng góp của nhân dân, sự nghiệp giáo dục, đào tạo được duy trì, có một số mặt được ổn định hoặc phát triển. Số học sinh, sinh viên nước ta hiện nay là 15 triệu người, chiếm gần 1/4 dân số.

Nhưng nền giáo dục nước ta chưa thoát khỏi tình trạng yếu kém do nhiều yếu tố tác động như tình hình kinh tế - xã hội khó khăn, công tác chỉ đạo, quản lý của ngành giáo dục và đào tạo còn nhiều nhược điểm.

Chất lượng giáo dục nói chung, và nhất là chất lượng giáo dục tư tưởng, đạo đức và lối sống của học sinh và sinh viên còn kém, một bộ phận thanh thiếu niên mờ nhạt về lý tưởng xã hội chủ nghĩa. Số học sinh phổ thông chán học và bỏ học ngày càng nhiều, đã tới mức báo động. Nhiều sinh viên học cầm chừng, trung bình chủ nghĩa. Số người mù chữ tăng lên. Chính sách giáo viên tuy có cải tiến nhưng không hấp dẫn thanh niên giỏi vào ngành sư phạm, đời sống tinh thần của giáo viên còn nghèo nàn, đời sống vật chất của đưa số giáo viên còn quá thấp, trình độ chuyên môn của giáo viên chậm được nâng cao, do đó một bộ phận giáo viên phổ thông không yên tâm dạy học, có nơi số giáo viên bỏ nghề đến mức số giáo viên mới được đào tạo ở các trường sư phạm không bù lại được. Chưa điều hoà được số giáo viên giữa nơi thừa và nơi thiếu; số giáo viên thừa đông; chậm sắp xếp lại các trường đại học, trung cấp chuyên nghiệp và trường phổ thông.

4. Về công tác bảo vệ sức khoẻ, nâng cao thể lực của nhân dân

Trong điều kiện có nhiều khó khăn, ngành y tế đã cùng với các địa phương phấn đấu duy trì việc bảo vệ sức khoẻ của nhân dân. Tiêm chủng mở rộng cho trẻ em được thực hiện tốt trên phạm vi cả nước, đạt kết quả đáng khích lệ, giảm nhiều số trẻ em chết dưới một tuổi. Công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu gắn với việc củng cố mạng lưới cơ sở, có một số tiến bộ. Chủ trương bảo vệ sức khoẻ nhân dân được tiến hành đồng bộ nhằm giải quyết bốn vấn đề cơ bản và cấp bách nhất là chống các bệnh nhiễm trùng, chống suy dinh dưỡng, hạn chế bùng nổ dân số và vệ sinh môi trường, đồng thời phòng chống những bệnh tật của một nước đang phát triển công nghiệp đã thu được một số kết quả. Phong trào thể dục thể thao quần chúng được duy trì và mở rộng ở nhiều nơi.

Tuy nhiên, nhìn chung công tác phòng và chữa bệnh, bảo vệ sức khoẻ của nhân dân còn nhiều vấn đề phải giải quyết. Đưa số các bệnh viện từ trung ương đến tỉnh, huyện xuống cấp nhiều. Bệnh sốt rét phát triển ở một số huyện, xã miền núi. Kinh phí của Nhà nước không đủ cho nhu cầu của y tế, nhưng chưa có những hình thức và biện pháp thích hợp (bảo hiểm y tế, viện phí...) để huy động sự đóng góp của nhân dân vào sự nghiệp y tế. Vệ sinh môi trường như cung cấp nước sạch, giải quyết chất thải công nghiệp, bảo vệ môi trường sống là những vấn đề tồn tại lớn.

5. Về hoạt động văn hoá, văn nghệ

Sau Đại hội VI, Bộ Chính trị và Ban Bí thư đã ra nghị quyết về văn hoá, văn nghệ, chỉ rõ những định hướng và chủ trương thúc đẩy quá trình đổi mới văn hoá, văn nghệ, khuyến khích anh chị em văn nghệ sĩ trong hoạt động sáng tạo.

Hoạt động văn hoá, văn nghệ có thêm sức sống, phong phú hơn về nội dung, đưa dạng hơn về hình thức, thể loại và phương thức hoạt động. Đội ngũ văn nghệ sĩ thuộc các thế hệ có nhiều cố gắng đóng góp vào sự nghiệp đổi mới. Trong sinh hoạt văn hoá, văn nghệ, dân chủ được phát huy, tạo thêm điều kiện thuận lợi cho sự sáng tạo.

Tuy nhiên, mức hưởng thụ văn hoá, văn nghệ của đông đảo nhân dân lao động còn rất thấp. ở nhiều vùng nông thôn, miền núi, vùng căn cứ cách mạng cũ, đời sống văn hoá về một số mặt giảm sút so với thời kháng chiến. Hoạt động văn hoá, văn nghệ thường tập trung nhiều ở các vùng đô thị và có khuynh hướng chạy theo thị hiếu của số công chúng có nhiều tiền, kể cả những thị hiếu không lành mạnh. Tình trạng các văn hoá phẩm độc hại phổ biến tràn lan đã gây hậu quả rất xấu. Đã xuất hiện một số tư tưởng lệch lạc: coi nhẹ văn nghệ cách mạng và kháng chiến, nhìn xã hội toàn màu đen, để cho quần chúng tự chọn món ăn, v.v..

Công tác quản lý văn hoá tuy có một số đổi mới nhưng còn yếu, chưa thay đổi kịp với tình hình, chậm thể chế hoá và thiếu hướng dẫn cụ thể, đã để kéo dài tình trạng lộn xộn trong hoạt động văn hoá, văn nghệ ở một số địa phương. Một số ngành nghệ thuật như điện ảnh, tuồng, chèo... lúng túng về phương hướng hoạt động.

III- Về quốc phòng và an ninh

1. Quốc phòng

Thực hiện Nghị quyết Đại hội VI và Nghị quyết 02 của Bộ Chính trị, chúng ta đã thực hiện những đổi mới quan trọng trên lĩnh vực quân sự và quốc phòng. Đã đề ra và tổ chức thực hiện có kết quả chủ trương điều chỉnh chiến lược bảo vệ Tổ quốc, bố trí lại lực lượng trên các hướng chiến trường, tăng cường khả năng phòng thủ ở những khu vực trọng yếu. Cùng với việc hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu trên các chiến trường, chúng ta đã giảm trên 60 vạn quân. Quân tình nguyện và chuyên gia đã chấp hành tốt nhiệm vụ quốc tế đối với cách mạng Campuchia và cách mạng Lào, thực hiện việc rút quân tình nguyện về nước.

Chấn chỉnh một bước quan trọng lực lượng quân thường trực, nâng cao chất lượng tổng hợp, tăng cường công tác chính trị tư tưởng và xây dựng Đảng trong quân đội, xây dựng cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với quân đội và sự nghiệp quốc phòng phù hợp với truyền thống và tình hình mới. Khắc phục nhiều khó khăn bảo đảm đời sống và chính sách đối với bộ đội. Chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ vững vàng về phẩm chất chính trị, nâng cao năng lực chuyên môn nghiệp vụ. Các xí nghiệp quốc phòng và các đơn vị chuyên làm kinh tế đã chuyển hướng thực hiện các nhiệm vụ theo cơ chế quản lý mới.

Đã triển khai một bước việc củng cố nền quốc phòng toàn dân, tập trung vào việc xây dựng các khu vực tỉnh, thành phố; chăm lo xây dựng lực lượng dự bị động viên, có một lực lượng dự bị động viên khá lớn; lực lượng dân quân, tự vệ đã được điều chỉnh theo hướng lấy chất lượng làm chính và điều chỉnh quy mô tổ chức cho phù hợp với tính chất và yêu cầu hoạt động trong tình hình mới.

Những kết quả trên lĩnh vực quân sự và quốc phòng đã tác động tích cực đến việc thực hiện cả hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, tạo ra những điều kiện thuận lợi mới cho công cuộc xây dựng kinh tế.

Tuy nhiên, mặt yếu nổi lên là: chất lượng tổng hợp các lực lượng vũ trang còn chưa đáp ứng được yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ. Sức chiến đấu, trình độ sẵn sàng chiến đấu, chất lượng huấn luyện của nhiều đơn vị còn hạn chế. Kỹ thuật và trang bị còn nhiều yếu kém. Đời sống cán bộ và chiến sĩ còn chật vật. Công tác đảng, đoàn, công tác chính trị tuy đã có một số tiến bộ nhưng hiệu quả còn hạn chế. Việc xây dựng các khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố còn nhiều vấn đề phải giải quyết như quản lý và huấn luyện lực lượng dự bị động viên và dân quân tự vệ. Các xí nghiệp quốc phòng trong quá trình chuyển sang thực hiện cơ chế quản lý mới đang gặp nhiều lúng túng.

Tình hình yếu kém trên đây có nhiều nguyên nhân. Nghị quyết 02 của Bộ Chính trị chưa được quán triệt sâu sắc trong cán bộ các cấp, các ngành. Sự lãnh đạo và chỉ đạo của Đảng uỷ Quân sự Trung ương và Bộ Quốc phòng có mặt, có lúc còn thiếu biện pháp tích cực và đồng bộ. Chậm nghiên cứu chiến lược quốc phòng gắn với chiến lược kinh tế - xã hội. Đảng uỷ và người chỉ huy một số đơn vị tổ chức thực hiện các nghị quyết, mệnh lệnh, chỉ thị của trên chưa nghiêm và quản lý bộ đội thiếu chặt chẽ.

Nhiệm vụ củng cố quốc phòng trong tình hình mới còn nặng nề, chúng ta cần có sự nỗ lực vượt bậc trên nhiều lĩnh vực, khắc phục cho được các mặt còn yếu, đặc biệt phải tập trung mọi cố gắng nâng cao trình độ chính trị và chất lượng tổng hợp của các lực lượng vũ trang và sức mạnh của nền quốc phòng toàn dân.

2. Về an ninh, trật tự

Trong tình hình quốc tế và trong nước có những diễn biến phức tạp, chúng ta đã nỗ lực giữ vững an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội nhằm mục tiêu ổn định tình hình chính trị và xã hội, tạo môi trường thuận lợi cho công cuộc đổi mới.

Với quan điểm đổi mới của Đại hội VI và Nghị quyết 07 của Bộ Chính trị, công tác bảo vệ an ninh chính trị đã từng bước được điều chỉnh phù hợp với tình hình, phục vụ chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần và đổi mới cơ chế quản lý kinh tế; phục vụ việc xây dựng và phát huy nền dân chủ xã hội chủ nghĩa; góp phần vào việc mở rộng quan hệ đối ngoại, hợp tác kinh tế, văn hoá, khoa học - kỹ thuật với nước ngoài.

Việc triển khai sâu rộng công tác chính trị t­ tưởng, tạo ra sự nhất trí và ổn định về chính trị trong Đảng và trong nhân dân là tiền đề rất cơ bản và thuận lợi để tiến hành các mặt công tác bảo vệ an ninh chính trị, giữ gìn trật tự an toàn xã hội.

Chúng ta đã liên tục phát động phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc, sáng tạo nhiều nội dung và hình thức phong phú bảo vệ an ninh, trật tự, khôi phục và củng cố được phong trào ở nhiều nơi, nhất là ở một số địa bàn trọng điểm trên các tuyến biên giới, bờ biển, thành phố lớn...; liên kết và hình thành các tuyến, các khu vực an toàn liên hoàn, chủ động phòng ngừa và tích cực tấn công các loại tội phạm. Đã kiên quyết trấn áp các hoạt động xâm nhập của bọn gián điệp, biệt kích, đấu tranh chống âm mưu "diễn biến hoà bình", các hoạt động chiến tranh tâm lý, phá hoại của các thế lực thù địch; đồng thời tấn công bọn tội phạm xâm phạm trật tự an toàn xã hội.

Tuy nhiên, tình hình an ninh, trật tự đến nay vẫn còn phức tạp. Việc phát hiện, đấu tranh và xử lý bọn phản động kết quả còn hạn chế. An ninh về tư tưởng văn hoá, an ninh nội bộ, an ninh biên giới, trật tự trị an ở các thành phố lớn, tình hình buôn lậu, thất thoát lớn tài sản Nhà nước, tình hình thanh thiếu niên phạm pháp... đang là những vấn đề nóng bỏng và là mối quan tâm lo ngại lớn của nhân dân. Phong trào bảo vệ an ninh Tổ quốc trong các cơ quan, xí nghiệp chưa có chuyển biến rõ rệt.

Tệ quan liêu, cửa quyền, nạn tham nhũng và các tiêu cực khác trong cơ quan đảng, nhà nước chưa được phát hiện kịp thời, đấu tranh mạnh mẽ và xử lý nghiêm minh, đang ảnh hưởng tới lòng tin của quần chúng đối với Đảng và Nhà nước.

Những tồn tại trên có nguyên nhân sâu xa là do những khó khăn về kinh tế, đời sống, nhưng chủ yếu là do thái độ hữu khuynh buông lỏng pháp chế, kỷ cương, mất cảnh giác chính trị, mơ hồ về dân chủ và chuyên chính, do việc kiểm tra phát hiện, khắc phục những sơ hở, thiếu sót không kịp thời, do các quy định và chế độ quản lý nội bộ, quản lý kinh tế - xã hội chưa theo kịp yêu cầu của công cuộc đổi mới.

Công an nhân dân, lực lượng xung kích và nòng cốt đấu tranh bảo vệ an ninh trật tự có bước tiến bộ, đã được củng cố một bước về chính trị, tư tưởng và tổ chức; quan điểm phục vụ nhân dân, tinh thần chiến đấu, tác phong công tác, ý thức tổ chức kỷ luật được nâng lên. Nhưng nhìn chung chất lượng chưa cao, tình hình tham nhũng, cửa quyền, sách nhiễu dân trong lực lượng công an còn nhiều, làm cho mối quan hệ giữa công an với nhân dân nhiều nơi chưa gắn bó. Việc chăm lo đời sống cho lực lượng này có nhiều khó khăn, các phương tiện còn thiếu thốn.

IV- Về công tác đối ngoại

Nghị quyết Đại hội VI cũng như các nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị đã xác định mục tiêu của các hoạt động đối ngoại là giữ vững hoà bình, tranh thủ những điều kiện quốc tế thuận lợi để đẩy mạnh công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, góp phần tích cực vào sự nghiệp chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Quan hệ giữa nước ta với Liên Xô đang được đổi mới phù hợp với quá trình cải tổ ở Liên Xô và đổi mới ở Việt Nam, phù hợp với lợi ích của nhân dân hai nước. Chúng ta kiên trì chính sách giữ vững quan hệ hữu nghị truyền thống với Đảng Cộng sản và nhân dân Liên Xô.

Với truyền thống hữu nghị và đoàn kết đặc biệt giữa Đảng và nhân dân ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia, chúng ta đang đổi mới nhằm nâng cao hiệu quả sự hợp tác giữa ba nước trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng độc lập, chủ quyền và lợi ích của mỗi nước và trên tinh thần đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau.

Bằng những cố gắng không ngừng, nhất là với việc rút hết quân Việt Nam khỏi Campuchia, chúng ta đã góp phần rất quan trọng vào quá trình giải quyết hoà bình vấn đề Campuchia trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và hoà hợp dân tộc của Campuchia.

Quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân ta với các nước xã hội chủ nghĩa, trong đó có Cuba, không ngừng được mở rộng và tăng cường.

Với đường lối độc lập, tự chủ và đoàn kết quốc tế, chúng ta kiên trì thúc đẩy quá trình bình thường hoá với Trung Quốc. Quan hệ Việt Nam với Trung Quốc sau 10 năm không bình thường, đang mở ra quá trình bình thường hoá, vì lợi ích nhân dân hai nước, vì hoà bình và ổn định ở khu vực và trên thế giới.

Quan hệ hữu nghị và hợp tác nhiều mặt giữa ta với Ấn Độ ngày càng được tăng cường. Sự hợp tác với nhiều nước độc lập dân tộc và Phong trào không liên kết tiếp tục được mở rộng.

Chúng ta mở rộng quan hệ hợp tác, hữu nghị với các nước Đông Nam Á theo nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, không can thiệp vào nội bộ của nhau, hai bên cùng có lợi, coi đây là một trong những nhiệm vụ đối ngoại quan trọng trong tình hình mới.

Chúng ta đã có những cố gắng lớn để cải thiện quan hệ với các nước Ôxtrâylia và nhiều nước ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương, Tây Âu, Bắc Âu. Chúng ta đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của nhiều nước, trong đó có Ấn Độ, Inđônêxia, Thuỵ Điển, Phần Lan, Italia... Giữa nước ta với Hoa Kỳ, Nhật Bản cũng đang có những bước đi theo hướng bình thường hoá quan hệ.

Chúng ta tăng cường tình đoàn kết chiến đấu với các đảng cộng sản và công nhân, các phong trào bảo vệ độc lập và chủ quyền dân tộc, các tổ chức quốc gia và quốc tế.

Những thành tựu trên mặt trận đối ngoại đã tạo môi trường quốc tế thuận lợi cho công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đẩy lùi một bước chính sách bao vây, cô lập về chính trị đối với nước ta, tăng thêm bầu bạn, nâng cao uy tín của nước ta trên trường quốc tế.

V- Thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa, đổi mới hoạt động của Nhà nước và các đoàn thể nhân dân

1. Một trong những thành tựu nổi bật trong thời gian qua là việc thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa trên các lĩnh vực của đời sống xã hội; đây là thực chất của đổi mới chính trị.

Dân chủ trong lĩnh vực kinh tế có ý nghĩa cơ bản. Với cơ chế và các chính sách mới, đã mở rộng được quyền tự chủ của các cơ sở sản xuất kinh doanh, phát huy tiềm năng và sự sáng tạo của các thành phần kinh tế, người lao động tự do sản xuất, kinh doanh theo pháp luật, làm cho nền kinh tế phát triển có hiệu quả hơn.

Các hoạt động văn hoá, thông tin, báo chí có bước phát triển mới về nội dung và phương pháp thông tin, về tự do nghiên cứu, sáng tạo khoa học, văn học, nghệ thuật, về thảo luận dân chủ các ý kiến khác nhau, tự phê bình và phê bình, nói rõ sự thật, đấu tranh phê phán các hiện tượng tiêu cực.

Trong sinh hoạt đảng (bao gồm cả sinh hoạt của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư), trong hoạt động của Quốc hội, Hội đồng Nhà nước, Hội đồng Bộ trưởng, hội đồng nhân dân các cấp, trong sinh hoạt của các đoàn thể quần chúng, cũng như trong xã hội, đã bắt đầu quen với không khí thảo luận cởi mở, thẳng thắn, phê phán khuyết điểm, sai lầm, khắc phục dần hiện tượng dân chủ hình thức. Nhiều chủ trương, chính sách, pháp luật quan trọng đã được nhân dân tham gia ý kiến trước khi quyết định.

Tính tự chủ và năng động của các cơ quan, đoàn thể, các đơn vị kinh tế tăng lên, từng bước đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động.

Các tổ chức đảng, các cơ quan nhà nước, các đoàn thể quần chúng đã gần dân hơn, đã chú trọng các hình thức đối thoại, tiếp dân, đi cơ sở tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng của dân, trả lời và giải quyết những vấn đề do nhân dân nêu ra.

Rõ ràng là tinh thần dân chủ được khơi dậy từ Đại hội VI tiếp tục được phát huy; con người cảm thấy thoải mái hơn, năng động, sáng tạo hơn.

Tuy nhiên, những tiến bộ đó còn hạn chế. Nhiều tiềm năng của dân chưa được khai thác, quyền làm chủ của dân chưa được tôn trọng và phát huy đầy đủ. Trong xã hội còn không ít hiện tượng mất dân chủ, dân chủ hình thức, có nơi rất nghiêm trọng. Chủ nghĩa quan liêu, tư­ tưởng phong kiến, gia trưởng còn nặng. Đồng thời cũng xuất hiện những khuynh hướng dân chủ cực đoan, dân chủ không đi liền với kỷ luật và pháp luật.

Nguyên nhân của tình hình đó là nhận thức chưa đầy đủ về quyền làm chủ của nhân dân, về dân chủ và kỷ luật, dân chủ và lãnh đạo; cơ chế và pháp luật bảo đảm thực hiện dân chủ chưa được cụ thể hoá; tổ chức và hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị chưa bảo đảm thực hiện và phát huy đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân.

Thực tế mấy năm qua cho thấy, để đổi mới và kiện toàn hệ thống chính trị, xây dựng và thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa, vấn đề mấu chốt là phân định rõ và giải quyết tốt mối quan hệ giữa Đảng với Nhà nước và các đoàn thể nhân dân; kiên quyết chống quan liêu, chống những hành vi xâm phạm quyền làm chủ của nhân dân, đồng thời phê phán và khắc phục những khuynh hướng lệch lạc.

2. Về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước

Đảng và Nhà nước ta đã có những chủ trương, biện pháp sửa đổi tổ chức và phương thức hoạt động của các cơ quan nhà nước; đã nhận thức rõ hơn vai trò tổ chức, điều hành của các cơ quan nhà nước, thực hiện tốt hơn chức năng quản lý nhà nước về kinh tế, xã hội theo cơ chế mới.

Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp đã đổi mới một bước tổ chức và hoạt động. Hoạt động lập pháp được đẩy mạnh; hơn 4 năm qua, Quốc hội, Hội đồng Nhà nước đã ban hành 24 luật và 31 pháp lệnh. Các kỳ họp Quốc hội đã thể hiện rõ tinh thần dân chủ, quyền hạn và trách nhiệm của các đại biểu nhân dân trong khi thảo luận, tranh luận và quyết định các vấn đề quan trọng của quốc gia. Hoạt động giám sát của Quốc hội được tăng cường và có hiệu quả hơn trước.

Hội đồng Bộ trưởng và uỷ ban nhân dân các cấp đã đổi mới hoạt động theo hướng thực hiện đúng chức trách, quyền hạn của tập thể Hội đồng Bộ trưởng và tập thể uỷ ban nhân dân, đồng thời phát huy trách nhiệm, quyền hạn cá nhân. Có bước tiến rõ trong điều hành và quản lý nhà nước bằng pháp luật, giải quyết có hiệu quả và kịp thời nhiều vấn đề kinh tế, xã hội quan trọng. Phân biệt rõ hơn chức năng quản lý nhà nước về kinh tế với chức năng sản xuất kinh doanh. Trên cơ sở đó, Hội đồng Bộ trưởng và các bộ đã tập trung chỉ đạo các hoạt động ở tầm vĩ mô, bớt công việc sự vụ; và sắp xếp lại một bước tổ chức bộ máy các bộ, tổng cục và các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh, huyện.

Những đổi mới đó đã góp phần hình thành cơ chế quản lý mới, tác động trực tiếp đến hoạt động tự chủ sản xuất kinh doanh của các đơn vị kinh tế và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước của cơ quan hành chính các cấp.

Các cơ quan toà án, kiểm sát đã được kiện toàn một bước. Nhiều tổ chức bổ trợ cho công tác xét xử đã hình thành.

Tuy nhiên, sự điều hành và quản lý nhà nước ở tầm vĩ mô còn nhiều khuyết điểm, nhược điểm:

- Nhà nước quản lý bằng pháp luật và theo pháp luật nhưng còn thiếu nhiều luật cần thiết, cả trong lĩnh vực kinh tế và trong lĩnh vực nội chính, hành chính. Nhiều luật, pháp lệnh đã ban hành không được thực hiện nghiêm chỉnh và thống nhất. Nhiều vụ phạm pháp không được xét xử hoặc xét xử chậm, xử chưa nghiêm.

Tổ chức các cơ quan xét xử còn yếu, không theo kịp yêu cầu tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.

- Chưa vận dụng tốt khoa học quản lý vào tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước. Sự phân công, phân nhiệm và các mối quan hệ giữa cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp, cơ quan toà án và kiểm sát có những điểm chưa rõ. Sự phân công, phân cấp quản lý giữa các cơ quan trung ương và các địa phương, cơ sở vừa chưa đầy đủ, vừa chưa phù hợp với sự thay đổi của cơ chế quản lý. Đội ngũ cán bộ, viên chức nhà nước còn yếu, ít được đào tạo, bồi dưỡng về kiến thức pháp luật và nghiệp vụ quản lý nhà nước; nói chung hiệu suất lao động và công tác còn thấp.

- Khuyết điểm lớn là đến nay chưa thực hiện được cuộc cải cách lớn về tổ chức bộ máy nhà nước như Đại hội VI đã đề ra. Tổ chức và biên chế của bộ máy nhà nước còn quá cồng kềnh, không hợp lý, chậm được đổi mới. Vẫn còn tình trạng một số cơ quan trùng lắp về chức năng, nhiệm vụ, trong khi đó lại chậm tăng cường những cơ quan cần thiết để nghiên cứu, giải quyết những vấn đề mới nảy sinh do sự thay đổi phương thức quản lý nhà nước, quản lý nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần.

Một trong những nguyên nhân của tình trạng trên đây là Đảng và Nhà nước ta còn thiếu kiến thức, thiếu kinh nghiệm về tổ chức và quản lý nhà nước trong điều kiện chuyển từ cơ chế quan liêu, bao cấp sang cơ chế quản lý mới về kinh tế - xã hội.

Để đáp ứng được yêu cầu của công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, sắp tới chúng ta phải tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, từ trung ương đến cơ sở, cả cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp và cơ quan tư pháp, cả về bộ máy, cơ chế hoạt động và cán bộ, nhanh chóng nâng cao năng lực, hiệu lực quản lý của Nhà nước.

3. Về tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân, các tổ chức xã hội

Từ Đại hội VI, nhất là từ sau Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương, Đảng đã lãnh đạo Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể cố gắng đổi mới tổ chức và hoạt động. Đại hội của nhiều đoàn thể đã được tiến hành theo tinh thần đổi mới - dân chủ - đoàn kết. Các đoàn thể, các tổ chức xã hội đã coi trọng việc đoàn kết, tổ chức đoàn viên, hội viên cùng chăm lo giải quyết những lợi ích thiết thực. Bộ máy của các đoàn thể ở các cấp được sắp xếp lại gọn nhẹ hơn trước. Thêm nhiều tổ chức xã hội, tổ chức quần chúng theo nghề nghiệp được thành lập, thu hút được đông đảo hội viên, tích cực tham gia các hoạt động xã hội, nhất là ở cơ sở.

Tuy vậy, trước yêu cầu đổi mới hiện nay, nhiều đoàn thể  chưa xác định được thật rõ chức năng, nhiệm vụ, còn lúng túng về phương thức hoạt động và xây dựng tổ chức. Lề lối làm việc còn nặng hành chính, hiệu quả giáo dục chính trị, tư tưởng thấp. Nhiều tổ chức cơ sở của các đoàn thể hoạt động thất thường. Nhiều đoàn viên, hội viên không thiết tha gắn bó với tổ chức của mình. Nhiều cán bộ đoàn thể không yên tâm làm công tác đoàn thể. Điều kiện, phương tiện làm việc của các đoàn thể còn nhiều khó khăn.

Thực tiễn những năm gần đây càng chứng tỏ, để đổi mới công tác quần chúng của Đảng, đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân, cần quán triệt sâu sắc những quan điểm cơ bản: cách mạng là sự nghiệp của dân, do dân và vì dân; động lực thúc đẩy phong trào cách mạng của quần chúng là đáp ứng các lợi ích thiết thực của nhân dân và kết hợp hài hoà các lợi ích, thống nhất quyền lợi và nghĩa vụ công dân; các hình thức tập hợp nhân dân phải đưa dạng; công tác quần chúng là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể, của các tổ chức khác trong hệ thống chính trị, chứ không phải chỉ của riêng các đoàn thể. Muốn tạo ra phong trào cách mạng sâu rộng trong quần chúng không những phải có đường lối, chủ trương đúng, làm tốt công tác tuyên truyền giáo dục tư tưởng, mà còn phải bảo đảm các điều kiện vật chất cần thiết và có phương pháp, biện pháp tổ chức đúng.

VI- Đảng trong công cuộc đổi mới

Thời gian từ sau Đại hội VI đến nay là một chặng đường có nhiều thử thách lớn đối với sự lãnh đạo của Đảng ta. Trong tình hình đất nước và quốc tế có những diễn biến nhanh và phức tạp, Đảng đã kiên trì đường lối đổi mới, đề ra và lãnh đạo nhân dân thực hiện có kết quả một số chủ trương, chính sách lớn về đối nội và đối ngoại, mở ra hướng phát triển mới của đất nước; tích cực sửa chữa những khuyết điểm mà Đại hội VI đã chỉ ra. Trong quá trình đó, Đảng có bước trưởng thành mới, có thêm những kiến thức và kinh nghiệm mới, nhất là về lãnh đạo kinh tế, lãnh đạo Nhà nước.

Nét nổi bật nhất là trong Đảng đã có sự đổi mới tư duy, nhất là tư duy kinh tế. Với tinh thần độc lập sáng tạo, Đảng đã cụ thể hoá và phát triển Nghị quyết Đại hội VI, hình thành một hệ thống các quan điểm và nguyên tắc chỉ đạo sự nghiệp cách mạng ở nước ta, thể hiện ở dự thảo Cương lĩnh chính trị, dự thảo Chiến lược kinh tế - xã hội, các nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ­ương, Bộ Chính trị. Trước những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới, Đảng kịp thời khẳng định những vấn đề có tính nguyên tắc của công cuộc đổi mới, bảo đảm ổn định về chính trị, tạo điều kiện để thực hiện đổi mới có hiệu quả. Những kết quả thực tế đã đạt được trên các lĩnh vực chứng tỏ đường lối và bước đi của chúng ta là đúng đắn, năng lực cụ thể hoá nghị quyết và tổ chức chỉ đạo thực hiện của các cấp, các ngành có tiến bộ.

Công tác tư tưởng của Đảng đã được đặc biệt coi trọng, góp phần đổi mới tư duy, định hướng tư tưởng, bồi dưỡng những nhận thức đúng đắn cho đảng viên và nhân dân, tạo ra sự nhất trí đối với đường lối, quan điểm của Đảng, động viên mọi người tích cực hưởng ứng và thực hiện các chủ trương, chính sách của Nhà nước. Phương pháp công tác tư tưởng được đổi mới theo hướng mở rộng thông tin, thông tin nhiều chiều, tuyên truyền những nhân tố mới, phổ biến những kinh nghiệm tốt, đồng thời tích cực đấu tranh chống tiêu cực, chống những quan điểm và nhận thức sai trái, lệch lạc, bảo vệ quan điểm đúng đắn của Đảng. Báo chí, xuất bản, văn hoá - văn nghệ có sự khởi sắc trong trào lưu phát huy dân chủ, tự do tư tưởng, tự do sáng tác và phê bình theo định hướng chính trị của Đảng và pháp luật của Nhà nước.

Về công tác tổ chức và cán bộ, đã sắp xếp lại một số tổ chức, điều chỉnh, thay đổi nhiều cán bộ lãnh đạo chủ chốt ở các cơ quan, các ngành, các cấp, bổ sung những cán bộ vừa vững vàng về chính trị, được rèn luyện trong đấu tranh cách mạng, vừa có trình độ văn hoá, khoa học, lý luận, chuyên môn nghiệp vụ. Trong số cán bộ mới, nhiều đồng chí đã phát huy tác dụng tốt. Công tác cán bộ đã được cải tiến theo hướng dân chủ hơn, tập thể hơn, bớt được những hiện tượng độc đoán, gia trưởng, áp đặt. Việc kết hợp nhiều độ tuổi ở mỗi cơ quan lãnh đạo là một kinh nghiệm tốt bảo đảm tính liên tục và tính kế thừa trong đội ngũ cán bộ.

Việc thực hiện các nghị quyết về xây dựng Đảng, tiến hành đại hội đảng bộ hai cấp huyện, quận và cơ sở, và nhất là việc thực hiện cuộc vận động chỉnh đốn làm trong sạch Đảng và nâng cao sức chiến đấu của Đảng, đã thúc đẩy phát triển dân chủ trong Đảng, củng cố các tổ chức cơ sở đảng, nâng thêm trình độ nhận thức và năng lực công tác của đội ngũ đảng viên.

Phương thức lãnh đạo và phong cách công tác đã có những cải tiến trên cơ sở phân định rõ hơn chức năng lãnh đạo của Đảng, chức năng quản lý của Nhà nước và chức năng của các đoàn thể nhân dân, tôn trọng vai trò và quyền hạn của cơ quan nhà nước và các đoàn thể; bớt được những hiện tượng ôm đồm, bao biện.

Tuy vậy, công tác xây dựng Đảng chuyển biến chậm. Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng ở tất cả các cấp chưa chuyển kịp theo yêu cầu đổi mới. Nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn nảy sinh trong công cuộc đổi mới chưa được làm sáng tỏ, nhiều quan điểm và chủ trương lớn của Đảng chưa được cụ thể hoá một cách đồng bộ. Hệ thống tổ chức của Đảng trước yêu cầu đổi mới còn những mặt chưa hợp lý, hoạt động kém hiệu quả. Một số tổ chức cơ sở đảng quá yếu, có nơi gần nh­ tê liệt. Tệ cục bộ, địa phương, tình trạng mất đoàn kết đã xảy ra ở một số cơ quan lãnh đạo ngành và địa phương, ảnh hưởng xấu đến công tác lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước. Tác dụng lãnh đạo của không ít tổ chức đảng và đảng viên giảm sút. Trình độ, kiến thức, năng lực lãnh đạo, quản lý của nhiều cán bộ, đảng viên có được nâng lên, nhưng chưa theo kịp yêu cầu của công cuộc đổi mới. Sự suy thoái về phẩm chất đạo đức của một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa được ngăn chặn và khắc phục có hiệu quả, làm suy giảm uy tín của Đảng. Trong Đảng vừa có những biểu hiện bảo thủ, không chịu đổi mới, vừa có khuynh hướng nóng vội, rập khuôn cách làm của nước khác, cũng có cả tư tưởng dao động, cơ hội về chính trị. Phương thức lãnh đạo chậm được đổi mới, tình trạng cấp uỷ đảng ở nhiều địa phương, nhiều cơ sở bao biện, làm thay công việc của chính quyền vẫn chưa được khắc phục một cách căn bản; đồng thời đã xuất hiện những biểu hiện buông lỏng sự lãnh đạo của Đảng.

Thời gian qua, có nhiều cấp uỷ không đi sâu chỉ đạo công tác xây dựng Đảng. Một số nghị quyết, chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ­ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư về xây dựng Đảng không được chỉ đạo thực hiện đến nơi đến chốn. Công tác tư tưởng có lúc bị buông lỏng, thiếu chủ động và không sắc bén. Công tác giáo dục phẩm chất đạo đức, khắc phục những hiện tượng tiêu cực trong cán bộ, đảng viên của nhiều tổ chức đảng còn bị coi nhẹ và kém hiệu quả. Công tác cán bộ chưa khắc phục được những khuyết điểm mà Đại hội VI và Hội nghị Trung ương 5 đã chỉ ra. Thực hiện kém việc quy hoạch và đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Chưa có cơ chế hợp lý để phát hiện và lựa chọn nhân tài. Tư tưởng cá nhân, cục bộ, phong kiến đã gây trở ngại cho việc nhận xét, bố trí, đề bạt cán bộ. Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chưa đáp ứng yêu cầu của cơ chế mới và nhiệm vụ mới.

Mặc dù có những việc chưa làm được hoặc làm chưa tốt, có những vấp váp và khuyết điểm, sự lãnh đạo của Đảng vẫn là nhân tố quyết định nhất đối với thắng lợi của công cuộc đổi mới, Đảng ta vẫn được nhân dân thừa nhận là đội tiên phong chính trị, là lực lượng lãnh đạo tin cậy của xã hội. Thực tiễn cách mạng nước ta chứng minh rằng, ở Việt Nam, ngoài Đảng Cộng sản, đảng do đồng chí Hồ Chí Minh sáng lập và lãnh đạo, được tôi luyện và dày dạn trong đấu tranh cách mạng, không có một lực lượng chính trị nào khác có thể đảm đương được vai trò lãnh đạo mà lịch sử giao phó.

Tất cả những thành tựu và yếu kém nói trên gắn liền với những ưu điểm và khuyết điểm trong sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư. Những ưu điểm chính của Ban Chấp hành Trung ương trong nhiệm kỳ này là:

- Thực hiện nghiêm túc đường lối của Đại hội VI, cụ thể hoá, bổ sung và phát triển Nghị quyết Đại hội, lãnh đạo công cuộc đổi mới với quan điểm đúng đắn, có phương pháp, bước đi về cơ bản phù hợp. Trước diễn biến phức tạp của tình hình quốc tế, đã vững vàng, nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, kịp thời đề ra những nguyên tắc cho công cuộc đổi mới ở nước ta theo con đường xã hội chủ nghĩa, những định hướng chính trị, tư tưởng đúng đắn thể hiện ở các nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 6, 7, 8, 9, 10, các thông báo và kết luận của Bộ Chính trị, bảo đảm vừa đổi mới vừa giữ vững sự ổn định chính trị của đất nước.

- Lãnh đạo giải quyết nhiều vấn đề kinh tế vừa cấp bách vừa cơ bản đạt kết quả tương đối tốt. Đã ban hành và lãnh đạo thực hiện có hiệu quả nhiều chủ trương đúng đắn, sáng tạo về đổi mới kinh tế, thể hiện rõ nhất ở các nghị quyết 2, 3, 6 của Ban Chấp hành Trung ương và các nghị quyết 10 và 16 của Bộ Chính trị. Trong quá trình thực hiện, trước những diễn biến phức tạp và những vấn đề mới nảy sinh đã kiên định đưa công cuộc đổi mới về kinh tế từng bước tiến lên.

- Tăng cường sự lãnh đạo tập thể đối với các công tác quốc phòng, an ninh, đối ngoại; có những nghị quyết đúng đắn và kịp thời về các lĩnh vực trên theo tinh thần Nghị quyết Đại hội VI, phù hợp với tình hình mới và quá trình thực hiện đã thu được những kết quả quan trọng.

- Tích cực chuẩn bị các dự thảo Cương lĩnh xây dựng chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ quá độ  Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, qua đó làm sáng tỏ và hệ thống hoá những quan điểm cơ bản về xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, nâng cao trình độ lãnh đạo cách mạng xã hội chủ nghĩa của Đảng và tạo cơ sở tốt để củng cố sự đoàn kết nhất trí trong Đảng và trong xã hội.

- Bước đầu đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng. Hoạt động của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị và Ban Bí thư đã tập trung hơn vào việc hoạch định và tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách lớn; bước đầu cải tiến sự lãnh đạo của Đảng đối với các cơ quan nhà nước, các đoàn thể nhân dân. Sinh hoạt của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư có nhiều tiến bộ về phong cách làm việc dân chủ, tập thể đoàn kết, tự phê bình và phê bình. Đợt tự phê bình và phê bình thẳng thắn, chân tình, có nguyên tắc của Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Ban Chấp hành Trung ương trong Hội nghị Trung ương 8 và Hội nghị Trung ương 9 đã góp phần củng cố sự đoàn kết thống nhất trong Ban Chấp hành Trung ương và trong toàn Đảng. Gần đây, các cấp uỷ đảng đã quan tâm chỉ đạo công tác chỉnh đốn Đảng, làm trong sạch Đảng và nâng cao chất lượng đảng viên. Giải quyết được nhiều vụ tồn đọng của các khoá trước theo tinh thần đổi mới.

Những khuyết điểm chính trong sự lãnh đạo của Trung ương là:

- Trong lãnh đạo kinh tế, giải quyết còn chậm và chưa tốt nhiều vấn đề kinh tế quan trọng có tầm quốc gia như tài chính, ngân hàng, xuất, nhập khẩu, tiền lương... chậm đề ra những quan điểm, chủ trương, chính sách có hệ thống trên các lĩnh vực khoa học - kỹ thuật, giáo dục và đào tạo, các chính sách xã hội.

- Chậm cụ thể hoá đầy đủ cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ. Chưa xây dựng được quy chế cụ thể về mối quan hệ công tác và lề lối làm việc giữa Bộ Chính trị, Ban Bí thư với Hội đồng Nhà nước, Hội đồng Bộ trưởng và mối quan hệ tương ứng ở các cấp; chưa khắc phục được tình trạng cấp uỷ đảng vừa bao biện công việc chính quyền, vừa buông lỏng công tác lãnh đạo của Đảng.

- Chưa chỉ đạo sâu và liên tục để tạo được chuyển biến rõ rệt trong việc đổi mới công tác xây dựng Đảng và công tác quần chúng của Đảng. Có lúc chưa chỉ đạo đúng mức cuộc vận động làm trong sạch Đảng theo Nghị quyết 04 của Bộ Chính trị và Nghị quyết 5 Ban Chấp hành Trung ương. Để kéo dài tình trạng một bộ phận đảng viên chất lượng và sức chiến đấu giảm sút; quan hệ giữa Đảng và quần chúng bị suy giảm. Công tác tổ chức và cán bộ vẫn nổi lên như một trong những vấn đề bức xúc nhất hiện nay.

- Mấy năm đầu sau Đại hội VI, lãnh đạo chưa kiên quyết cuộc đấu tranh chống tiêu cực, trước hết là chống tham nhũng, chống buôn lậu. Chưa đề ra được các giải pháp có hiệu lực để khắc phục các bất công xã hội. Để kéo dài tình trạng kỷ cương, pháp luật không nghiêm.

- Sinh hoạt nội bộ Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị có tiến bộ về phong cách dân chủ và tập thể, song chưa thực hiện được thường xuyên tự phê bình và phê bình; lề lối sinh hoạt chưa khoa học, hiệu suất làm việc chưa cao, Trung ương chưa tổ chức tốt việc kiểm tra thực hiện các nghị quyết của Đảng và việc theo dõi, giúp đỡ các cấp uỷ địa phương; chưa giải quyết kịp thời và triệt để tình trạng mất đoàn kết ở một số cấp uỷ và đảng bộ trực thuộc Trung ương.

Đó là những vấn đề chủ yếu mà Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị và Ban Bí thư nghiêm túc kiểm điểm trước đại hội.

VII- Đánh giá tổng quát và kinh nghiệm tiến hành đổi mới

Quá trình đưa Nghị quyết Đại hội VI vào cuộc sống là quá trình thể nghiệm, tìm tòi, từng bước cụ thể hoá, phát triển và tổ chức thực hiện những định hướng lớn của nghị quyết đại hội.

Từ sau Đại hội VI đến giữa năm 1988, Đảng và Nhà nước vừa vạch ra các chủ trương, chính sách đổi mới trên một số lĩnh vực quan trọng, vừa tập trung giải quyết những vấn đề kinh tế, xã hội cấp bách.

Về kinh tế, việc đầu tiên là xử lý một số khâu trong lĩnh vực phân phối lưu thông đang gây ách tắc sản xuất, mà khâu đột phá là cải cách giá, trước hết là giá nông sản, theo hướng thực hiện giá thoả thuận và một giá kinh doanh. Tiếp đó, ra các nghị quyết về phát huy tính tự chủ của các đơn vị cơ sở công nghiệp quốc doanh gắn liền với xác định các nguyên tắc cơ bản quản lý nhà nước về kinh tế, đổi mới cơ chế quản lý trong nông nghiệp, phát triển kinh tế nhiều thành phần. Xây dựng và điều hành thực hiện kế hoạch hằng năm theo hướng tập trung cho ba chương trình kinh tế. Ban hành Luật đầu tư của nước ngoài, đặt cơ sở chuyển hướng quan hệ kinh tế với Liên Xô theo phương thức hợp tác liên doanh đôi bên cùng có lợi.

Về mặt chính trị, tiếp tục khơi dậy phong trào phát huy dân chủ; phát huy quyền lực của Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp; đẩy mạnh việc xây dựng pháp luật; đổi mới sự lãnh đạo của Đảng trên các lĩnh vực văn hoá - văn nghệ, thông tin - báo chí; đấu tranh chống tiêu cực trong xã hội, trong các tổ chức đảng và cơ quan nhà nước. Chủ trương điều chỉnh chiến lược bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ an ninh chính trị, xác định chính sách đối ngoại phù hợp với tình hình mới. Trong quan hệ quốc tế, tích cực ủng hộ cách mạng Campuchia và cùng với bạn chủ động tìm kiếm các con đường góp phần giải quyết vấn đề Campuchia bằng biện pháp chính trị; thúc đẩy quá trình bình thường hoá với các nước láng giềng...

Trong thời gian này, các chủ trương, chính sách nói trên chưa kịp phát huy tác dụng trên thực tế, tình hình kinh tế, xã hội chưa có sự chuyển biến đáng kể. Thậm chí, có những mặt gay gắt hơn như giá cả và lạm phát tăng nhanh, thiên tai nặng gây ra nạn đói giáp hạt khá rộng vào đầu năm 1988 ở nhiều vùng nông thôn phía Bắc.

Từ giữa năm 1988 đến đầu năm 1990 là thời gian mà các chủ trương, chính sách ban hành trước đó phát huy tác dụng, đem lại những kết quả bước đầu trong công cuộc đổi mới. Thời gian này, Ban Chấp hành Trung ương đã ra Nghị quyết Trung ương 6, đánh giá công cuộc đổi mới trong 2 năm, rút ra những bài học kinh nghiệm tiếp tục bổ sung những chủ trương, chính sách mới để đưa công cuộc đổi mới đi vào chiều sâu. Về kinh tế, Nhà nước đã chỉ đạo phát huy mạnh mẽ hơn nữa cơ chế thị trường có điều tiết vĩ mô như căn bản chuyển sang cơ chế một giá kinh doanh, thực hiện mua bán bình thường vật tư, hàng hoá qua thị trường, loại bỏ chế độ tem phiếu, Nhà nước tổ chức kinh doanh ngoại tệ, vàng bạc, thành lập các ngân hàng chuyên doanh, sửa đổi chính sách lãi suất, mở rộng nhập khẩu phi mậu dịch, v.v..). Về quốc phòng - an ninh, đã triển khai việc điều chỉnh chiến lược quốc phòng, giảm mạnh quân số, mở rộng cuộc đấu tranh chống các loại tội phạm, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Việc rút quân tình nguyện Việt Nam ở Campuchia và Lào về nước có ý nghĩa lớn nhiều mặt về đối nội và đối ngoại. Trước tình hình khủng hoảng nghiêm trọng của các nước xã hội chủ nghĩa tác động bất lợi đến nước ta, trên cơ sở các nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương 6, 7, 8, 9, Đảng tiến hành công tác chính trị - tư tưởng sâu rộng trong Đảng và trong nhân dân nhằm khẳng định chủ nghĩa Mác - Lênin, con đường xã hội chủ nghĩa và vai trò lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp cách mạng.

Việc thực hiện các chủ trương, chính sách ban hành từ sau Đại hội VI đã mang lại kết quả khả quan: tình hình kinh tế và đời sống nhân dân ta từ giữa năm 1988 trở đi bắt đầu có sự cải thiện nhất định. Lòng tin của nhân dân vào công cuộc đổi mới tăng lên. Mặt khác, cũng phát sinh những vấn đề mới phải giải quyết khi chuyển sang cơ chế thị trường như sự đình đốn của nhiều xí nghiệp công nghiệp, tương nghiệp quốc doanh và sản xuất tiểu, thủ công nghiệp; tình trạng lộn xộn trong hoạt động xuất, nhập khẩu; hàng nhập lậu tràn lan... ở nông thôn, các vụ tranh chấp ruộng đất tăng lên. Một số vấn đề xã hội vẫn chưa có sự chuyển biến.

Từ quý II năm 1990 đến nay, bên cạnh những tiến bộ về sản xuất lương thực, cây công nghiệp, xuất khẩu, về xoá bỏ bao cấp, triển khai mạnh cuộc đấu tranh chống tham nhũng, buôn lậu, chống thất thu thuế, v.v., tình hình kinh tế - xã hội nước ta đứng trước những khó khăn mới rất gay gắt. Do tác động của tình hình quốc tế bất lợi, giá vật tư, nguyên liệu nhập khẩu tăng nhiều, thị trường truyền thống về xuất khẩu hàng hoá, lao động và các hợp đồng hợp tác liên doanh sản xuất bị thu hẹp. Mặt khác, do nhiều nguyên nhân, việc tháo gỡ những ách tắc trong sản xuất, kinh doanh khắc phục chậm, lao động thiếu việc làm tăng, bội chi ngân sách lớn, nhiều "cơn sốt" giá cục bộ xuất hiện, chỉ số lạm phát cao lên dần, tiền lương thực tế của những người ăn lương giảm sút mạnh. Trước tình hình đó, Hội nghị lần thứ 10 của Ban Chấp hành Trung ương đã đánh giá sâu sắc tình hình của thời điểm quan trọng này, vạch ra phương hướng chỉ đạo củng cố và phát huy những thắng lợi đã giành được, phấn đấu vượt qua những khó khăn mới về kinh tế, xã hội, giữ vững sự ổn định chính trị, tạo thế đi lên cho những năm sau.

Tổng quát lại, sau gần 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội VI, chúng ta đã thu được những thắng lợi bước đầu rất quan trọng. Nền kinh tế đã có sự chuyển biến về chất lượng, bước đầu hình thành nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường dưới sự quản lý, hướng dẫn của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nhiều năng lực sản xuất của xã hội được huy động tốt hơn, tốc độ lạm phát cao bị kiềm chế, đời sống vật chất và tinh thần của một bộ phận đáng kể nhân dân ổn định hơn và có phần được cải thiện. So với trước đây thì hiện nay mức độ khủng hoảng đã giảm được một phần, thể hiện chủ yếu ở khả năng đáp ứng nhu cầu hàng hoá tốt hơn trước và kiềm chế được tốc độ lạm phát cao.

Nội dung và phương thức hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị đang trên đà đổi mới theo hướng phát huy dân chủ nội bộ và quyền làm chủ của nhân dân, tăng cường quyền lực của các cơ quan dân cử, nâng cao hiệu lực quản lý của chính quyền các cấp, củng cố Đảng đi đôi với cải tiến sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội.

Tình hình chính trị, quốc phòng, an ninh về cơ bản ổn định. Từng bước phá vỡ thế bị bao vây về kinh tế, cô lập về chính trị, mở rộng quan hệ quốc tế, tạo ra môi trường thuận lợi hơn cho công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước.

Thành tựu nói trên khẳng định tính tất yếu và sự đúng đắn của các chủ trương đổi mới, đem lại cho chúng ta những nhận thức mới và kinh nghiệm quan trọng về con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội phù hợp với đặc điểm nước ta. Và đó là điều quan trọng nhất để chúng ta tiến lên.

Mặt khác, cần nhận thức đầy đủ những yếu kém và khó khăn lớn đang tồn tại: đất nước ta vẫn chưa ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, công cuộc đổi mới còn những mặt hạn chế, nhiều vấn đề kinh tế - xã hội nóng bỏng chưa được giải quyết. Đáng chú ý là những vấn đề lớn sau đây:

- Nền kinh tế còn mất cân đối lớn, lạm phát ở mức cao, lao động thiếu việc làm nhiều, hiệu quả kinh tế còn thấp, chưa có tích lũy từ nội bộ nền kinh tế. Nhiều cơ sở sản xuất, kinh doanh đình đốn, chưa thích ứng được với kinh tế thị trường, quản lý vĩ mô có nhiều mặt bất cập.

- Chế độ tiền lương bất hợp lý, sự giảm sút về đời sống của một bộ phận lớn của những người sống bằng tiền lương; tình trạng bất công xã hội, tham nhũng, mất dân chủ, vi phạm kỷ luật, kỷ cương còn nặng và phổ biến.

- Việc nâng cao ý chí cách mạng trong Đảng, thanh lọc đảng viên; lựa chọn, bố trí, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cốt cán; cải cách căn bản hệ thống tổ chức là những vấn đề lớn đòi hỏi phải giải quyết.

Tình hình trên đây có nguyên nhân quan trọng ở khuyết điểm chủ quan, đồng thời có những mặt vừa là hậu quả của nhiều năm trước đây để lại và là khó khăn của quá trình đi lên, vừa do những tác động bất lợi của tình hình thế giới. Nhiệm kỳ Đại hội VII và kế hoạch 5 năm 1991-1995 sẽ tập trung sức làm chuyển biến tình hình nói trên.

Từ thực tiễn những năm qua, có thể nêu lên mấy kinh nghiệm bước đầu về tiến hành công cuộc đổi mới:

Một là, phải giữ vững tư duy độc lập trong việc đề ra chủ trương và chính sách đổi mới. Sở dĩ đường lối đổi mới được nhân dân ta hoan nghênh, hăng hái thực hiện và đã đem lại một số kết quả tích cực chính vì đường lối ấy đáp ứng những đòi hỏi của tình hình nước ta, đáp ứng lợi ích và nguyện vọng bức xúc của nhân dân. Khi cụ thể hoá và phát triển đường lối ấy, Đảng ta chủ yếu căn cứ vào thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta, có tham khảo song tuyệt nhiên không sao chép kinh nghiệm của nước ngoài. Thực tế mấy năm qua càng xác nhận bài học kinh nghiệm lịch sử của Đảng ta là khi nào chúng ta độc lập suy nghĩ, lưuôn xuất phát đầy đủ từ thực tiễn của đất nước và tôn trọng quy luật khách quan trong việc xác định các chủ trương hành động thì lúc đó cách mạng giành được thắng lợi; ngược lại, lúc nào giáo điều máy móc, chủ quan, duy ý chí thì lúc đó cách mạng gặp tổn thất.

Hai là, phải giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong quá trình đổi mới. Chúng ta xác định đi lên chủ nghĩa xã hội là con đường tất yếu của nước ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Bác Hồ, của Đảng và nhân dân ta. Đổi mới không phải là thay đổi mục tiêu xã hội chủ nghĩa mà là làm cho mục tiêu ấy được thực hiện có kết quả bằng những quan niệm đúng đắn về chủ nghĩa xã hội, những hình thức, bước đi và biện pháp thích hợp. Chúng ta phê phán những khuyết điểm, sai lầm trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhưng không quan niệm những lệch lạc đó là khuyết tật của bản thân chế độ, coi khuyết điểm là tất cả, phủ định thành tựu, từ đó dao động về mục tiêu và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Chúng ta mở rộng sự giao lưu, học tập tiếp thu những thành tựu khoa học, kỹ thuật và quản lý tiên tiến của các nước, kể cả các nước tư bản chủ nghĩa, song không bao giờ đi chệch khỏi định hướng chế độ đã lựa chọn. Việc thực hiện các chủ trương đổi mới đều phải nhằm phục vụ cho mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội, đều phải lấy kết quả xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam để kiểm nghiệm.

Ba là, phải quán triệt quan điểm đổi mới toàn diện, đồng bộ và triệt để, đồng thời phải căn cứ vào những điều kiện thực tế để có bước đi, hình thức và cách làm phù hợp. Thực tiễn cho thấy đổi mới là cuộc cách mạng sâu sắc trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Các lĩnh vực ấy có liên quan chặt chẽ với nhau và tác động qua lại lẫn nhau, vì vậy phải tiến hành đổi mới đồng bộ tất cả các lĩnh vực. Trên từng lĩnh vực, nội dung đổi mới cũng bao gồm nhiều mặt: từ đổi mới quan niệm đến đổi mới cơ chế, chính sách, tổ chức, cán bộ, phong cách và lề lối làm việc. Nếu chỉ đơn độc đổi mới một lĩnh vực hoặc một khâu nào đó thì công cuộc đổi mới không thể đạt được kết quả mong muốn. Đồng thời trong mỗi bước đi lại phải xác định đúng khâu then chốt để tập trung sức giải quyết, làm cơ sở để đổi mới các khâu khác, lĩnh vực khác.

Về quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị, chúng ta chủ trương tập trung sức làm tốt đổi mới kinh tế, thiết thực đáp ứng những đòi hỏi cấp bách của nhân dân về đời sống và việc làm, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, coi đó là điều kiện quan trọng để tiến hành thuận lợi đổi mới trong lĩnh vực chính trị. Đồng thời với đổi mới kinh tế, phải từng bước đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị một cách vững chắc, phát huy ngày càng đầy đủ quyền làm chủ và năng lực sáng tạo của nhân dân trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội. Vì chính trị đụng chạm đến các mối quan hệ đặc biệt phức tạp và nhạy cảm trong xã hội, nên việc đổi mới trong hệ thống chính trị nhất thiết phải trên cơ sở nghiên cứu và chuẩn bị rất nghiêm túc, không cho phép dẫn đến sự rối loạn. Đổi mới trong hệ thống chính trị là một điều kiện để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, do đó phải tổ chức nghiên cứu và tiến hành đổi mới khẩn trương, nhất là về tổ chức bộ máy và cán bộ, mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và các đoàn thể nhân dân.

Bốn là, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa vừa là yêu cầu, nguyện vọng của nhân dân, vừa là một nội dung, một động lực cơ bản của công cuộc đổi mới. Chính do phát huy dân chủ mà Đảng ta đề ra được đường lối đổi mới đúng đắn và thực hiện đường lối đó có kết quả trong cuộc sống. Chúng ta khẳng định tiếp tục phát huy ngày càng sâu rộng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Thực tế của nước ta cho chúng ta bài học kinh nghiệm sâu sắc là: để bảo đảm phát huy dân chủ đúng hướng và đạt kết quả thì quá trình đó phải được lãnh đạo tốt, có bước đi vững chắc phù hợp với tình hình chính trị, xã hội nói chung. Có như vậy việc phát huy dân chủ mới có thể đạt mục đích là động viên toàn dân hăng hái xây dựng chủ nghĩa xã hội; ngược lại, không tính toán đầy đủ những nhân tố đó thì mọi ý định tốt đẹp về phát huy dân chủ khó có thể thực hiện thành công, mà còn có thể đưa đến những hậu quả làm tổn hại lợi ích của nhân dân.

Năm là, trong quá trình đổi mới, phải đặc biệt quan tâm dự báo tình hình, kịp thời phát hiện và vững vàng giải quyết những vấn đề mới nảy sinh trên tinh thần kiên định đường lối đổi mới; tăng cường tổng kết thực tiễn và không ngừng hoàn chỉnh lý luận về con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Mỗi chủ trương, chính sách, biện pháp kinh tế, xã hội, dù là đúng đắn nhất, thì trong quá trình thực hiện, bên cạnh mặt tích cực là chủ yếu cũng thường có những hệ quả tiêu cực nhất định, những vấn đề mới nảy sinh, cần phải dự kiến trước và theo dõi để chủ động ngăn ngừa, giải quyết. Không vì gặp khó khăn mà dao động và quay lại những cách làm sai lầm cũ.

Công cuộc đổi mới càng đi vào chiều sâu thì càng xuất hiện nhiều vấn đề mới mẻ liên quan đến nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội. Chỉ có tăng cường tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận thì công cuộc đổi mới mới trở thành hoạt động tự giác, chủ động và sáng tạo, bớt được sai lầm và những bước đi quanh co, phức tạp.

*
*     *

Trong nhiệm kỳ Đại hội VI, nhờ sự phấn đấu của toàn Đảng và toàn dân, chúng ta đã đạt được những thành tựu quan trọng, đồng thời còn nhiều vấn đề chưa được giải quyết. Đổi mới là cuộc cách mạng đang trong quá trình vận động, chưa thể kết thúc trong một thời gian ngắn. Nhiệm kỳ Đại hội VII sẽ tiếp tục bổ sung, nâng cao đường lối đổi mới, khắc phục những khó khăn trở ngại để giành những thắng lợi to lớn hơn nữa trong cuộc sống.

Phần thứ hai

NHỮNG PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ LỚN TRONG 5 NĂM 1991-1995

A- Đặc điểm tình hình

Chúng ta bước vào kế hoạch 5 năm 1991-1995 trong bối cảnh thế giới và khu vực có những biến động lớn. Tình hình ấy đang tác động sâu sắc đến công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta.

Trước hết phải nói đến quan hệ kinh tế với Liên Xô. Nước ta nhập từ Liên Xô gần như toàn bộ nhu cầu xăng dầu, sắt thép, kim loại màu, bông sợi, phân bón hoá học và nhiều thiết bị, phụ tùng quan trọng khác. Hằng năm ngoài khoản vay để nhập các công trình thiết bị toàn bộ, Nhà nước ta còn được Liên Xô cho vay trên dưới 1 tỷ rúp để nhập vật tư nguyên liệu. Vài năm gần đây chúng ta đã cố gắng tăng nhanh mức xuất khẩu sang Liên Xô, thu hẹp đáng kể mức nhập siêu với bạn (năm 1990 còn 250 triệu rúp).

Từ năm 1991, quan hệ kinh tế giữa nước ta với Liên Xô có thay đổi lớn. Việc mua bán giữa hai nước chuyển sang thanh toán bằng ngoại tệ mạnh theo giá thị trường thế giới, cơ bản cân bằng giữa xuất khẩu và nhập khẩu, không còn các khoản vay để nhập vật tư, nguyên liệu. Những biến động ở Liên Xô, Đông Âu và vùng Vịnh cũng gây cho chúng ta những đảo lộn về thị trường xuất, nhập khẩu, làm trở ngại việc thực hiện một số chương trình hợp tác liên doanh và các hiệp định về lao động. Hệ quả là sắp tới, để nhập được một khối lượng vật tư, hàng hoá như trước, chúng ta phải chi một lượng ngoại tệ lớn hơn và phải xuất khẩu nhiều hơn; giá vật tư nhập khẩu phải điều chỉnh lên tương ứng với mặt bằng giá quốc tế, kéo theo những tác động dây chuyền về nhiều mặt; nguồn vay cho ngân sách từ bên ngoài sẽ giảm mạnh; nói một cách khác nền kinh tế nước ta phải thích ứng với tình hình không còn sự "bao cấp quốc tế".

Gần đây quan hệ giữa nước ta và Trung Quốc, các nước Đông Nam Á, với Mỹ và nhiều nước phương Tây khác đã có một số cải thiện, mở ra triển vọng từng bước bình thường hoá. Việc nước ta tham gia ngày càng sâu vào thị trường thế giới và sự phân công lao động quốc tế là phù hợp với xu thế của thời đại. Điều đó tạo ra khả năng để chúng ta mở rộng thị trường, thu hút nguồn vốn và kỹ thuật, học hỏi kinh nghiệm của thế giới để xây dựng đất nước. Mặt khác, việc mở rộng quan hệ với bên ngoài cũng đặt ra những vấn đề phức tạp mà chúng ta cần phải lường trước để chủ động ngăn ngừa, nhất là âm mưu "diễn biến hoà bình", nhằm thay đổi chế độ chính trị - xã hội ở nước ta. Tham gia vào thị trường thế giới bên cạnh những thuận lợi, chúng ta phải thích ứng với những biến động về quan hệ cung cầu, giá cả, sự cạnh tranh gay gắt về chất lượng, hiệu quả, những đòi hỏi khắt khe về quy chế và luật pháp kinh doanh của thị trường thế giới.

Hiện nay, tình hình kinh tế - xã hội của nước ta vẫn chưa ổn định, lạm phát còn tiếp tục, khủng hoảng chưa chấm dứt.

Khó khăn hàng đầu phải giải quyết là tạo ra nguồn cân đối vật chất và tài chính đáp ứng mục tiêu ổn định và phát triển kinh tế. Ngoài phần vốn đáng kể phải tạo ra trong nước, một phần khác, phải dựa vào nguồn vay bên ngoài trên cơ sở có vay có trả. Về mặt hiện vật, nhiều loại vật tư nguyên liệu chiến lược phải dựa vào nhập khẩu.

Trong khi đó, nền kinh tế nước ta về cơ bản chưa có tích lũy từ thu nhập quốc dân sản xuất và đang trong quá trình đổi mới cơ chế quản lý, nhiều cơ sở kinh tế chưa vươn lên kịp, hiệu quả sản xuất thấp, thiếu kinh nghiệm kinh doanh. Trật tự, kỷ cương, pháp chế lỏng lẻo; tiêu cực, tham nhũng còn nhiều, đang là cản trở nghiêm trọng việc thực hiện các chính sách kinh tế, xã hội. Năng lực quản lý của Nhà nước, tổ chức bộ máy và cán bộ tuy đã có tiến bộ nhưng vẫn còn nhiều mặt bất cập.

Mặt khác, bước vào 5 năm tới, chúng ta cũng có nhiều thuận lợi lớn.

Trước hết, so với 5 năm trước, khi đất nước còn trong tình trạng vừa có hoà bình vừa có chiến tranh, kinh tế khủng hoảng nặng nề, công cuộc đổi mới chưa khởi động, thì giờ đây điểm xuất phát đã cao hơn. Đó là những kết quả bước đầu rất quan trọng và những kinh nghiệm đổi mới mà chúng ta tích lũy được trong những năm qua. Lực lượng dự trữ và tiềm năng để phát triển kinh tế ở nước ta chưa được sử dụng tốt, trước hết là khả năng sáng tạo của lực lượng lao động cần cù và đội ngũ cán bộ khoa học - kỹ thuật chưa được phát huy đầy đủ. Đó là khả năng thâm canh, tăng vụ và mở rộng diện tích trong nông nghiệp: phát triển nghề rừng và nghề cá; mở rộng công nghiệp dầu khí và một số ngành công nghiệp khác, năng lực sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu còn lớn, vốn nhàn rỗi trong nhân dân có thể huy động còn nhiều... Trong cả nước, mỗi ngành, mỗi vùng, mỗi thành phần kinh tế đều có những điển hình sản xuất kinh doanh giỏi, giải quyết vấn đề xã hội tốt. Nếu có chính sách và cơ chế quản lý đúng đắn, biết tổng kết và phổ biến kinh nghiệm của những điển hình tiên tiến, thì những lực lượng dự trữ và tiềm năng nói trên có những mặt sẽ được khai thác sớm.

Đông đảo nhân dân ta ủng hộ đường lối đổi mới. Cục diện chính trị nước ta tương đối ổn định. Đó là những điều kiện rất quan trọng để xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội.

Với thành tựu và kinh nghiệm của gần 5 năm đổi mới, Đảng và nhân dân ta có đủ bản lĩnh và khả năng đưa nước ta ra khỏi khủng hoảng, tiến lên giành những thắng lợi mới.

Xuất phát từ tình hình nói trên và căn cứ vào những mục tiêu của chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, mục tiêu tổng quát của 5 năm sắp tới là vượt qua được những thử thách trước mắt, ổn định và phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị, đẩy lùi tiêu cực và bất công xã hội.

Trong 5 năm 1991-1995, năm 1991 là năm có tính chất quyết định để giữ vững và phát huy những thành tựu đổi mới, chuyển nền kinh tế thích ứng với những biến động của tình hình quốc tế.

Những phương hướng chỉ đạo là:

- Tăng cường đoàn kết toàn dân, phát huy tinh thần tự lực tự cường, cần kiệm xây dựng đất nước.

Cái vốn quý nhất cũng là khả năng tiềm tàng to lớn nhất để xây dựng đất nước ta là lòng yêu nước, tinh thần lao động cần cù và sáng tạo của nhân dân Việt Nam. Nhà nước ta cần có nhiều chính sách để tăng cường và mở rộng hơn nữa khối đoàn kết toàn dân, huy động khả năng của mọi tầng lớp nhân dân, mọi giới vào công cuộc xây dựng đất nước.

Con đường để có ấm no, hạnh phúc cho mỗi gia đình và toàn xã hội là mọi người phát huy trí sáng tạo, cần cù lao động với hiệu quả, năng suất cao, ra sức thực hành tiết kiệm. Chống mọi biểu hiện lười biếng, làm ăn dối trá, xa hoa, lãng phí, ỷ lại vào sự viện trợ của nước ngoài.

- Kết hợp động lực kinh tế với động lực tinh thần, khơi dậy phong trào quần chúng xây dựng cuộc sống mới.

Trong cách mạng và kháng chiến, mọi người Việt Nam yêu nước đều sẵn sàng hy sinh tất cả để giành độc lập, tự do, quyết không chịu làm nô lệ. Ngày nay, đất nước đã được độc lập, thống nhất, đi vào xây dựng chủ nghĩa xã hội, mỗi người lao động quan tâm đến lợi ích và nhu cầu kinh tế của bản thân và gia đình, đó là điều chính đáng. Song mỗi người còn phải phát huy mạnh mẽ lòng yêu nước và tự hào dân tộc, không quản ngại khó khăn gian khổ, tích cực phấn đấu cho sự nghiệp dân giàu, nước mạnh. Cần có chính sách kết hợp hài hoà lợi ích của cá nhân, tập thể và xã hội, kết hợp động lực kinh tế với động lực tinh thần, tạo ra phong trào quần chúng sôi nổi và thiết thực xây dựng đất nước.

- Tiếp tục đổi mới toàn diện và đồng bộ, đưa công cuộc đổi mới đi vào chiều sâu. Trong khi tiếp tục lấy việc đổi mới kinh tế làm trọng tâm, phải thực hiện mạnh mẽ việc đổi mới các lĩnh vực khác, như tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị, đặc biệt là nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước, đổi mới tổ chức và phương thức lãnh đạo của Đảng, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa; đổi mới chính sách xã hội, phát huy động lực của khoa học và công nghệ, đổi mới công tác giáo dục, đào tạo và bồi dưỡng cán bộ.

Công cuộc đổi mới trên tất cả các lĩnh vực phải nắm vững định hướng xã hội chủ nghĩa, nhằm mục tiêu chung là xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội.

- Tạo ra môi trường quốc tế thuận lợi để mở rộng và tăng cường quan hệ kinh tế, văn hoá và khoa học - kỹ thuật với nước ngoài.

Mọi hoạt động đối ngoại nhằm phục vụ nhiệm vụ trung tâm đó. Chúng ta tham gia sâu vào phân công lao động quốc tế, mở rộng thị trường, thu hút nhiều nguồn vốn, công nghệ và kinh nghiệm quản lý của thế giới; huy động tối đưa nguồn lực bên trong kết hợp với tranh thủ nguồn lực bên ngoài.

Việc mở rộng quan hệ quốc tế phải theo nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, cùng có lợi, bảo vệ sản xuất, kinh tế và an ninh quốc gia, bảo vệ và phát huy những truyền thống và bản sắc tốt đẹp của văn hoá dân tộc.

Công cuộc đổi mới của nhân dân ta diễn ra trong bối cảnh hết sức phức tạp, vì vậy, trong khi đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng đất nước, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta không lúc nào lơi lỏng nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chế độ.

B- Những nhiệm vụ chủ yếu

Căn cứ vào mục tiêu của Chiến lược kinh tế - xã hội của chặng đường đầu tiên, nhiệm vụ chủ yếu của kế hoạch 5 năm 1991-1995 là:

I- Ổn định và phát triển kinh tế

Đó là mục tiêu và nhiệm vụ hàng đầu phải đạt tới, là cơ sở để giải quyết thắng lợi các nhiệm vụ chính trị, xã hội của kế hoạch 5 năm 1991-1995. Phấn đấu thực hiện các yêu cầu sau:

- Giảm bội chi, tiến tới cân bằng ngân sách; khống chế lạm phát ở mức độ dưới 10% một năm vào năm 1995, ổn định dần tiền tệ, thị trường, giá cả, tạo điều kiện để sản xuất, kinh doanh hoạt động bình thường và đời sống nhân dân ổn định hơn.

- Khắc phục tình trạng đình đốn trong các ngành kinh tế quốc dân, đẩy nhanh nhịp độ phát triển sản xuất và ứng dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật, xây dựng kết cấu hạ tầng, nâng cao hiệu quả kinh tế. Giảm đáng kể nhịp độ tăng dân số và tinh giản mạnh biên chế hành chính, sự nghiệp.

- Hình thành về cơ bản và vận hành tương đối thông suốt cơ chế quản lý mới.

- Bảo đảm tiêu dùng bằng thu nhập quốc dân sản xuất trong nước và có phần tích lũy từ nội bộ nền kinh tế.

Sau đây là một số chủ trương lớn:

1. Tiếp tục điều chỉnh và từng bước xây dựng mới cơ cấu kinh tế theo hướng tập trung thực hiện ba chương trình kinh tế

a) Phương hướng phát triển một số ngành và lĩnh vực kinh tế quan trọng

Phát triển nông nghiệp toàn diện, trong đó lương thực - thực phẩm là trọng tâm, kết hợp với xây dựng nông thôn mới xã hội chủ nghĩa. Đẩy mạnh công nghiệp chế biến, công nghiệp hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu. Phát triển một số ngành công nghiệp nặng và kết cấu hạ tầng để phục vụ trực tiếp ba chương trình kinh tế và tạo điều kiện hình thành cơ cấu kinh tế mới theo yêu cầu công nghiệp hoá.

Cơ cấu kinh tế bao gồm nhiều ngành nghề, nhiều loại hình kinh tế, nhiều trình độ công nghệ, nhiều quy mô, trong đó quy mô vừa và nhỏ là chính, hình thành và phát triển trong quá trình vận động của kinh tế hàng hoá.

- Phát triển nông nghiệp vẫn là một nhiệm vụ chủ yếu của kế hoạch phát triển kinh tế. Vừa chuyên canh, vừa kinh doanh tổng hợp, phát huy lợi thế của từng vùng để đạt giá trị sản lượng hàng hoá cao nhất. Phấn đấu bảo đảm lương thực đủ ăn vững chắc, có dự trữ cần thiết, dành một phần quan trọng cho chăn nuôi và xuất khẩu. Đáp ứng đủ các loại thực phẩm chính, tăng tỷ trọng giá trị ngành chăn nuôi, kể cả chăn nuôi xuất khẩu, trong tổng giá trị sản phẩm nông nghiệp. Đưa diện tích cây công nghiệp ngắn ngày và dài ngày lên quy mô lớn hơn. Phát triển mạnh các cây dùng làm nguyên liệu cho sản xuất công nghiệp thay thế nhập khẩu (như bông, thuốc lá, mía...). Đẩy mạnh nuôi trồng và đánh bắt, chế biến thuỷ sản, đi đôi với phát triển kinh tế vùng ven biển. Mở rộng có kết quả việc trồng rừng và phủ xanh đất trống, đồi trọc, bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái và tài nguyên thiên nhiên, đáp ứng nhu cầu về nguyên liệu, vật liệu cho công nghiệp. Thực hiện chương trình công nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ sản, giải quyết tốt các khâu sau thu hoạch. Đưa công nghệ và kỹ thuật mới vào các hộ nông dân. Phát triển nông, lâm, ngư nghiệp gắn liền với phát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, xây dựng kết cấu hạ tầng, các cơ sở văn hoá, phúc lợi xã hội; xây dựng các điểm kinh tế - kỹ thuật dịch vụ ở từng vùng nông thôn.

- Phát triển công nghiệp hàng tiêu dùng và chế biến, gia công hàng xuất khẩu trên cơ sở phát huy tiềm năng của tất cả các thành phần kinh tế, kể cả hợp doanh với nước ngoài, đáp ứng nhu cầu về những mặt hàng thiết yếu với chất lượng ngày càng cao, phục vụ tốt tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, tạo thêm nhiều việc làm. Chú trọng phát triển các ngành dệt, may mặc, da, sành, sứ, thuỷ tinh, gỗ, cao su, nhựa, kim khí tiêu dùng, đồ điện và điện tử. Sớm đưa một số mặt hàng gia công, lắp ráp, chế biến có công nghệ hiện đại, có sức cạnh tranh để trở thành mũi nhọn trong xuất khẩu.

- Công nghiệp nặng trước hết phải phục vụ tốt việc thực hiện ba chương trình kinh tế. Đẩy mạnh khai thác dầu khí. Tiếp tục phát triển điện lực, nhất là ở miền Trung và miền Nam. Đưa ngành than đi vào thế phát triển vững chắc. Khai thác và chế biến các khoáng sản khác. Tăng năng lực sản xuất phân lân, apatít; sớm xây dựng cơ sở lọc dầu, sản xuất phân đạm, tăng thêm sản lượng ximăng, các loại vật liệu xây dựng thông thường, các hoá chất cơ bản. Coi trọng việc chấn chỉnh và đầu tư chiều sâu ngành cơ khí để phục vụ các ngành kinh tế, từ sửa chữa đến chế tạo một phần thiết bị và có sản phẩm xuất khẩu. Tăng năng lực sản xuất thép, tăng sản lượng thiếc, sớm khai thác bốcxít, đất hiếm...

- Ngành giao thông vận tải phải vươn lên nhanh, khắc phục tình trạng xuống cấp, bảo đảm khối lượng vận chuyển trong nước và xuất, nhập khẩu. Phát triển vận tải đường biển, đường sông, nâng cao công suất của các cảng biển, cảng sông; củng cố vận tải đường sắt; khắc phục tình trạng xuống cấp đường bộ, nâng cấp và khởi công xây dựng một số đường trục; chú trọng phát triển đường giao thông nông thôn và miền núi; phát triển hàng không. Ngành bưu điện nhanh chóng đi vào hiện đại hoá một số lĩnh vực, trước hết ở khâu viễn thông quốc tế, mở rộng thông tin liên lạc đến các vùng nông thôn, miền núi; phủ sóng truyền thanh, truyền hình trong cả nước.

- Phát triển các hoạt động kinh tế dịch vụ phục vụ sản xuất và đời sống.

- Hoạt động kinh tế đối ngoại cần được mở rộng về quy mô và nâng cao hiệu quả. Tạo cho được nguồn ngoại tệ cần thiết và quản lý chặt chẽ số ngoại tệ đó để nhập vật tư, thiết bị và một số hàng tiêu dùng cần thiết mà sản xuất trong nước chưa đáp ứng được. Phấn đấu tăng kim ngạch xuất khẩu lớn hơn nhập khẩu để có thể trả lãi và một phần nợ gốc. Trên cơ sở tính toán kỹ hiệu quả, có phương án trả được nợ, tìm thêm nguồn tín dụng, các nguồn vốn và vật tư bên ngoài để phát huy các khả năng sản xuất trong nước.

Đưa dạng hoá hoạt động kinh tế đối ngoại, đồng thời xác định trọng điểm thị trường và từng lĩnh vực, tạo thế đứng ngày càng vững chắc trong việc tham gia thị trường khu vực và thế giới. Ngoài việc trao đổi buôn bán hàng mậu dịch, chú ý hình thức phi mậu dịch, làm đại lý cho các công ty nước ngoài; cải tiến cơ cấu xuất khẩu theo hướng tăng các mặt hàng chế biến và gia công, giảm tỷ trọng xuất khẩu nguyên liệu, sản phẩm nguyên dạng hoặc chế biến thô, tạo ra các sản phẩm chủ lực như dầu mỏ và các sản phẩm chế biến từ dầu, gạo, caosu, càphê, chè, hàng tơ tằm, thuỷ sản... Phát triển du lịch, vận tải, thông tin, bưu điện quốc tế và các hoạt động dịch vụ thu ngoại tệ. Mở rộng hợp tác lao động và chuyên gia. Phát triển hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực tài chính, bảo hiểm. Tích cực chuẩn bị các điều kiện để tham gia các tổ chức kinh tế quốc tế ở thời điểm thích hợp. Xây dựng chính sách thị trường và mở rộng thị trường phù hợp với điều kiện mới.

b) Về kinh tế vùng:

Tiếp tục xây dựng và thực hiện chiến lược phát triển kinh tế vùng và địa phương phù hợp với chiến lược chung của cả nước. Phát huy thế mạnh của từng vùng, từng địa phương, khai thác các nguồn lực tại chỗ, đồng thời chủ động mở rộng quan hệ phân công, hợp tác, liên kết với các vùng và địa phương khác trong nước và với nước ngoài. Lựa chọn những thành phố, thị xã có vị trí thích hợp, xây dựng thành các trung tâm kinh tế của từng vùng để tạo điều kiện liên kết công nghiệp với nông nghiệp, thành thị với nông thôn, phát triển giao lưu hàng hoá.

Đối với thế mạnh ở từng vùng, trung ương và địa phương cùng hợp sức khai thác, ưu tiên các địa bàn sớm đưa lại hiệu quả; đồng thời chú ý hỗ trợ các vùng có nhiều khó khăn, các địa bàn xung yếu về quốc phòng, một số địa phương miền núi, các khu căn cứ cách mạng và kháng chiến trước đây.

Trong 5 năm tới phải có bước tiến rõ rệt trong việc phát huy khả năng tiềm tàng của trung du và miền núi về lâm nghiệp, cây công nghiệp, chăn nuôi đại gia súc. Giải quyết nhu cầu lương thực của các vùng này theo quan điểm kinh tế hàng hoá, từng bước hình thành các vùng chuyên canh, nâng dần trình độ chế biến nông, lâm sản tại chỗ. Khai thác đi đôi với tái tạo, phát triển rừng và bảo vệ môi trường. Phát triển kinh tế đi đôi với phát triển y tế, giáo dục, thông tin, văn hoá. Đẩy mạnh việc thực hiện nghị quyết Bộ Chính trị (khoá VI) về phát triển kinh tế - xã hội miền núi, ban hành thêm những chính sách khuyến khích như ưu tiên về giá, tín dụng, thuế, đầu t­ư nước ngoài, dành một số chương trình viện trợ quốc tế cho việc trồng rừng và sự nghiệp y tế, giáo dục ở miền núi.

c) Về các thành phần kinh tế

Sắp xếp lại và củng cố kinh tế quốc doanh, tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật, đổi mới công nghệ và năng lực quản lý để phát huy vai trò chủ đạo trong những ngành nghề, những lĩnh vực then chốt của nền kinh tế. Tập trung lực lượng củng cố và phát triển những cơ sở làm ăn có hiệu quả và có nguồn thu ngân sách lớn. Chuyển hình thức sở hữu hoặc giải thể các cơ sở quốc doanh không then chốt kinh doanh thua lỗ và không vươn lên được. Thương nghiệp quốc doanh tập trung chủ yếu vào khâu bán buôn và một phần bán lẻ hàng tiêu dùng thiết yếu, phát huy tác dụng tích cực trong việc ổn định và điều tiết giá cả thị trường.

Củng cố các hợp tác xã sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, hợp tác xã mua bán, tín dụng (ở nông thôn) theo hướng phát huy và kết hợp hài hoà sức mạnh của tập thể và sức mạnh của xã viên. Mở rộng các hình thức kinh tế tập thể và hợp tác đưa dạng ở những ngành, những nơi có nhu cầu và điều kiện. Cùng với việc tiếp tục phát huy quyền tự chủ của hộ gia đình xã viên, củng cố và tăng cường vai trò các ban quản trị hợp tác xã nông nghiệp trong việc thực hiện chức năng điều hành một số công việc chung như quy hoạch và hướng dẫn phương hướng sản xuất, quản lý quỹ không chia và tài sản tập thể..., trực tiếp tổ chức kinh doanh các dịch vụ kỹ thuật, cung ứng vật tư, chế biến và tiêu thụ sản phẩm, tín dụng..., cùng với chính quyền và các đoàn thể chăm lo các vấn đề xã hội và xây dựng nông thôn mới.

Khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân và hướng kinh tế tư nhân theo con đường chủ nghĩa tư bản nhà nước, đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất. Tăng cường sự hướng dẫn và kiểm tra của Nhà nước, đấu tranh chống trốn lậu thuế, làm hàng giả và các hiện tượng tiêu cực khác. Phát triển mạnh kinh tế gia đình bằng nhiều hình thức, nhân dân bỏ vốn là chính kết hợp với sự hỗ trợ của Nhà nước.

d) Về công tác đầu tư cơ bản

Đổi mới công tác đầu tư cơ bản. Nhà nước hướng dẫn hoạt động đầu tư trong xã hội. Có chính sách và biện pháp thích hợp khai thác mọi nguồn vốn đầu tư của toàn xã hội, bao gồm đầu tư tập trung của ngân sách nhà nước, của các địa phương, cơ sở và của các tầng lớp nhân dân, hướng vào các mục tiêu trọng điểm phát triển kinh tế - xã hội. Đầu tư đồng bộ có mục tiêu, kết hợp đầu tư xây dựng mới có lựa chọn với đầu tư chiều sâu. Có chính sách ưu đãi đầu tư vào một số ngành, vùng và những sản phẩm cần khuyến khích. Làm thử và mở rộng từng bước việc xây dựng một số khu vực có quy chế đặc biệt về hành chính, kinh tế. Tranh thủ đầu tư của  nước ngoài dưới nhiều hình thức. Chấn chỉnh công tác kiều hối, có chính sách động viên người Việt Nam ở nước ngoài góp phần xây dựng Tổ quốc bằng hình thức đầu tư và nhiều hình thức khác.

Chuyển phần lớn đầu tưsang cơ chế kinh doanh, ngoài một phần đầu tư từ ngân sách nhà nước cho kết cấu hạ tầng. Thực hiện rộng rãi cơ chế đấu thầu xây dựng. áp dụng các biện pháp triệt để tiết kiệm trong xây dựng cơ bản.

2. Tiếp tục đổi mới quản lý kinh tế

Trong 5 năm tới, phấn đấu hình thành về cơ bản cơ chế quản lý kinh tế mới, nhằm tiếp tục thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế hàng hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa và mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, bảo đảm sự phát triển hài hoà giữa hai mặt kinh tế và xã hội. Đó là cơ chế thị trường dưới sự quản lý của nhà nước xã hội chủ nghĩa. Nhà nước quản lý bằng kế hoạch, luật pháp, các chính sách kinh tế, tài chính, lực lượng vật chất, các biện pháp hành chính, v.v..

- Sắp xếp lại và củng cố các đơn vị kinh tế. Chỉ đạo chặt chẽ việc sắp xếp lại và củng cố các đơn vị kinh tế thuộc mọi thành phần, trước hết ở những ngành và địa phương trọng điểm, với bước đi thích hợp, không để xảy ra những biến động xấu về xã hội. Nhà nước có chính sách hỗ trợ cần thiết về mặt xã hội đối với những đơn vị kinh tế phải giải thể do không có khả năng vươn lên, thua lỗ kéo dài. Quy định chặt chẽ về việc hình thành các đơn vị kinh tế và ban hành luật phá sản phù hợp với yêu cầu của cơ chế thị trường.

Bằng nhiều hình thức, giải quyết vốn cho các đơn vị kinh tế trọng điểm đang gặp khó khăn, để đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ, mở rộng thị trường.

Tiếp tục xây dựng và kiện toàn cơ chế quản lý của các hợp tác xã nông nghiệp theo hướng vừa bảo đảm quyền tự chủ của hộ xã viên, vừa tăng cường vai trò của các ban quản trị trong việc quản lý, điều hành sản xuất, làm tốt những khâu dịch vụ cần thiết. Giải quyết một cách cơ bản tình trạng tranh chấp ruộng đất.

Bổ sung, đổi mới các chính sách và luật pháp theo hướng: vừa đòi hỏi, vừa tạo điều kiện để các đơn vị kinh tế tự chủ và tự chịu trách nhiệm, thực hiện đầy đủ quyền hạn và nghĩa vụ trong sản xuất kinh doanh, hợp tác và cạnh tranh trong khuôn khổ pháp luật; giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng nhằm bảo toàn và phát triển tài sản của Nhà nước, bảo đảm lợi ích của toàn xã hội mà Nhà nước là người đại diện chủ sở hữu, lợi ích của tập thể lao động tại xí nghiệp và lợi ích của các cổ đông; thực hiện đúng đắn vai trò làm chủ của người lao động, bảo đảm sự lãnh đạo của tổ chức đảng và phát huy vai trò của các tổ chức quần chúng trong quản lý xí nghiệp phù hợp với cơ chế mới.

Tăng cường vai trò của hợp đồng kinh tế theo đúng quy định của pháp luật. Chuyển hệ thống trọng tài kinh tế thành toà án kinh tế.

Trước mắt, làm tốt việc tổng kết cơ chế và chính sách, đồng thời tiến hành thận trọng một số thử nghiệm về đổi mới cơ chế và tổ chức đối với các đơn vị kinh tế quốc doanh. Tổ chức từng bước việc chuyển một số xí nghiệp quốc doanh thành công ty cổ phần và tiến hành việc giao vốn cho các xí nghiệp.

Sắp xếp, tổ chức lại các liên hiệp xí nghiệp, tổng công ty để thực sự trở thành các tổ chức kinh doanh, với sự tự nguyện tham gia của các đơn vị kinh tế thuộc mọi thành phần.

- Hình thành và mở rộng các thị trường hàng hoá, vật tư, dịch vụ, tiền vốn, sức lao động..., khắc phục hình thức phân phối hiện vật còn tồn tại trong các chính sách kinh tế. Tính đủ giá trị đối với đất đai, tài nguyên... đưa vào sử dụng. Bằng nhiều hình thức, thu hút vốn trong nước và ngoài nước vào sản xuất, kinh doanh, bảo đảm vốn chu chuyển nhanh nhạy giữa các đơn vị kinh tế và các vùng. Xây dựng thí điểm thị trường chứng khoán khi có điều kiện.

Thúc đẩy và mở rộng giao lưu hàng hoá trong cả nước, chú trọng nông thôn và miền núi, xoá bỏ triệt để mọi hình thức chia cắt thị trường theo địa giới hành chính. Có các hình thức và biện pháp gắn thị trường trong nước với thị trường thế giới, giải quyết tốt mối quan hệ giữa tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, có chính sách bảo vệ sản xuất nội địa, đấu tranh chống buôn lậu và các hiện tượng tiêu cực khác trong lưu thông. Làm tốt công tác dự báo và chủ động cân đối về những mặt hàng thiết yếu, hạn chế đến mức thấp nhất và kịp thời khắc phục các đột biến cục bộ trên thị trường.

Sắp xếp lại và đổi mới mạnh mẽ hệ thống thương nghiệp quốc doanh, tập trung làm tốt khâu bán buôn theo hướng chuyên môn hoá kết hợp với một phần bán lẻ những mặt hàng thiết yếu. Có chính sách giải quyết vốn cho thương nghiệp quốc doanh để kinh doanh và dự trữ lưu thông cần thiết. Có cơ chế phối hợp và điều hoà giữa dự trữ quốc gia và dự trữ lưu thông. Củng cố các hợp tác xã mua bán, nhất là ở nông thôn.

Sắp xếp lại các tổ chức xuất nhập khẩu ở trung ương và địa phương, thu gọn đầu mối, thành lập các hiệp hội xuất, nhập khẩu trên cơ sở tự nguyện. Quản lý chặt chẽ việc cấp giấy phép và hạn ngạch xuất, nhập khẩu.

Kiên trì vận dụng cơ chế giá thị trường, điều chỉnh mặt bằng giá và quan hệ tỷ giá do sự thay đổi của giá quốc tế đối với các loại vật tư, nguyên liệu, thiết bị nhập khẩu. Các cơ quan chức năng phối hợp với quần chúng và công luận kiểm tra và giám sát giá các vật tư, hàng hoá, dịch vụ quan trọng nhất, giá của một số đơn vị độc quyền sản xuất, kinh doanh cũng như chất lượng sản phẩm. Thực hiện sự kiểm soát của Nhà nước về chấp hành Pháp lệnh kế toán - thống kê.

- Đổi mới và nâng cao chất lượng kế hoạch hoá nền kinh tế quốc dân, bao quát tất cả các thành phần kinh tế, lấy thị trường làm căn cứ và đối tượng; sử dụng các chương trình mục tiêu, chính sách đầu tư, tín dụng và các chính sách kinh tế khác để tạo điều kiện và hướng dẫn sự phát triển của các thành phần kinh tế. Kế hoạch phải xác định những cân đối lớn của nền kinh tế quốc dân và có chính sách, biện pháp bảo đảm các cân đối đó.

- Xây dựng chính sách tài chính quốc gia theo hướng: khai thác được tiềm năng của mọi thành phần kinh tế để phát triển sản xuất, kinh doanh, tạo thêm việc làm, cải thiện đời sống và tăng nguồn thu cho ngân sách; vừa tạo điều kiện, vừa gây sức ép buộc các đơn vị kinh tế tìm mọi biện pháp nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh; thực hiện phân phối hợp lý thu nhập quốc dân, giải quyết đúng đắn quan hệ giữa tích lũy và tiêu dùng, thực hành tiết kiệm và bảo đảm công bằng xã hội; góp phần tích cực vào việc kiềm chế và đẩy lùi lạm phát.

Đổi mới và bổ sung các luật thuế theo hướng thúc đẩy các cơ sở kinh tế phát triển sản xuất, kinh doanh, bảo đảm quan hệ hợp lý giữa tích tụ vốn ở cơ sở và đóng góp cho ngân sách. Kiện toàn hệ thống thu thuế, tăng cường thanh tra tài chính, chống thất thu và lạm thu, đấu tranh chống mọi biểu hiện tiêu cực. Thể chế hoá sự đóng góp của nhân dân, khắc phục tình trạng phụ thu, lạm bổ. Phát triển và quản lý tốt các hình thức bảo hiểm đưa dạng.

- Đổi mới hệ thống ngân hàng, thực hiện đúng chức năng của ngân hàng nhà nước và ngân hàng kinh doanh, kiên quyết phân định rành mạch giữa tài chính và tín dụng, đổi mới việc quản lý và kinh doanh ngoại tệ. Tạo điều kiện và đòi hỏi ngân hàng mau chóng vươn lên làm tốt chức năng là trung tâm tiền tệ, tín dụng và thanh toán của nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, thúc đẩy sản xuất phát triển có hiệu quả, góp phần từng bước ổn định giá trị đồng tiền Việt Nam và làm cho nó sớm có giá trị chuyển đổi.

- Đổi mới và bổ sung hệ thống pháp luật kinh tế. Các cơ quan nhà nước thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của luật pháp. Các ngành, các cấp chấp hành đúng chính sách, chế độ của Nhà nước, không được tự ý thay đổi khi chưa có sự chấp thuận của cấp có thẩm quyền.

- Cải tiến công tác điều hành của Nhà nước về kinh tế theo hướng tăng cường phối hợp đồng bộ giữa các cấp quản lý, bảo đảm sự nhất quán trong các quy định, coi trọng hoạt động phân tích và dự báo tình hình, chỉ đạo sâu sát và giải quyết kịp thời các vướng mắc trong hoạt động kinh tế của các đơn vị cơ sở, ngành và địa phương.

- Tổ chức bộ máy và cán bộ. Tiếp tục thể chế hoá quản lý nhà nước và quản lý của các đơn vị kinh tế, quản lý ngành và quản lý theo địa phương và vùng lãnh thổ. Sắp xếp lại cơ cấu tổ chức, bộ máy quản lý kinh tế của Nhà nước theo hướng thu gọn hợp lý đầu mối, xoá bỏ các cấp trung gian không cần thiết, tăng cường cấp tỉnh, thành và cấp xã, phường, giảm nhẹ cấp huyện.

Kiện toàn và tinh giản biên chế bộ máy nhà nước trên cơ sở quy định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan nhà nước cũng nhưtiêu chuẩn hoá chức danh của cán bộ, nhân viên. Tăng cường đào tạo và bồi dưỡng cán bộ quản lý kinh tế.

3. Khoa học, công nghệ và giáo dục, đào tạo

Khoa học, công nghệ và giáo dục, đào tạo đóng vai trò then chốt trong toàn bộ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, đặc biệt là xây dựng kinh tế, là một động lực đưa đất nước từng bước thoát ra khỏi nghèo nàn, lạc hậu, vươn lên trình độ tiên tiến của thế giới.

- Phương hướng khoa học và công nghệ nhằm phục vụ có hiệu quả việc thực hiện các mục tiêu của Cương lĩnh  Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo cơ sở khoa học cho các quyết định quan trọng của các cơ quan lãnh đạo, quản lý, công cụ chủ yếu để nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả của mọi hoạt động kinh tế - xã hội, trước hết hướng vào việc thực hiện thắng lợi ba chương trình kinh tế lớn, góp phần xây dựng nền văn hoá mới và con người mới.

Các ngành khoa học xã hội thông qua nghiên cứu sự vận động của các quá trình xã hội, dự báo khả năng phát triển của đất nước và của thế giới, cung cấp các luận cứ khoa học để xây dựng và không ngừng hoàn thiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Nhiệm vụ chủ yếu của các ngành khoa học xã hội trong những năm tới là trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm thực tiễn của nước ta và chọn lọc những thành tựu khoa học của thế giới, góp phần làm sáng tỏ và cụ thể hoá những vấn đề quan trọng được nêu trong Cương lĩnh Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là những vấn đề về cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, kế hoạch và thị trường, tài chính và tiền tệ, các vấn đề thuộc hệ thống chính trị, quản lý kinh tế, quản lý xã hội, những vấn đề về văn hoá, tư tưởng, văn học, nghệ thuật, giai cấp, dân tộc, tôn giáo, những vấn đề về lịch sử dân tộc, lịch sử Đảng, v.v.. Nghiên cứu chủ nghĩa xã hội thế giới, chủ nghĩa tư bản hiện đại, cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật, kinh nghiệm của các nước công nghiệp mới và các nước trong  khu vực. Cải tiến nội dung và phương pháp nghiên cứu, giảng dạy khoa học xã hội, trước hết là chủ nghĩa Mác - Lênin. Khoa học xã hội phải trở thành công cụ sắc bén trong việc đổi mới tư duy, xây dựng lập trường, quan điểm đúng đắn, xây dựng ý thức và nhân cách xã hội chủ nghĩa, khắc phục những tư tưởng sai lầm.

Các ngành khoa học tự nhiên và công nghệ tập trung vào việc cải tạo, đổi mới và nâng cao trình độ công nghệ của các cơ sở sản xuất hiện có, tận dụng có hiệu quả công suất thiết bị, máy móc, đưa dạng hoá và nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ, tăng khả năng cạnh tranh của hàng hoá trên thị trường trong nước và thị trường thế giới; cải tiến, hiện đại hoá công nghệ truyền thống của các ngành, nghề tiểu, thủ công nghiệp và nông, lâm, ngư nghiệp. Phát triển có trọng điểm một số hướng công nghệ hiện đại như điện tử và tin học, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới và các công nghệ gia công, chế biến tiên tiến. Thúc đẩy việc hình thành một số ngành công nghiệp và dịch vụ có hàm lượng công nghệ cao góp phần xây dựng cơ cấu kinh tế mới, nghiên cứu và phổ cập các giải pháp có hiệu quả nhằm sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường.

Việc phát huy vai trò động lực của khoa học và công nghệ đòi hỏi phải đổi mới cơ chế quản lý kinh tế và quản lý khoa học, công nghệ. Trong những năm trước mắt, cần thực hiện một số biện pháp quan trọng sau:

Nhanh chóng sửa đổi, bổ sung những quy định về quản lý kinh tế tạo môi trường và điều kiện kinh tế - xã hội thuận lợi để khuyến khích người sản xuất càng áp dụng các biện pháp cải tiến và đổi mới công nghệ càng có lợi về kinh tế. Tăng mức đầu tư từ ngân sách, lập các quỹ khoa học, công nghệ của các bộ, mở rộng quỹ tín dụng ưu đãi; lập quỹ hỗ trợ ứng dụng công nghệ mới, kết hợp chặt chẽ giữa nguồn vốn trong nước và ngoài nước, áp dụng chế độ đặt hàng của Nhà nước, đấu thầu thực hiện đề án, mở rộng các hợp đồng trực tiếp.

Mở rộng thị trường các sản phẩm công nghệ như một loại hàng hoá đặc biệt. Nhà nước công nhận, bảo hộ quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp đối với các sáng tạo công nghệ và cho phép các bên tiến hành mua bán theo giá thoả thuận. Thực hiện việc bảo hộ có chọn lọc đối với những mặt hàng mà khả năng công nghệ trong nước đã đủ sức giải quyết. Khuyến khích mạnh mẽ việc nhận chuyển giao công nghệ theo các hướng ưu tiên của chiến lược khoa học và công nghệ. Thực hiện chặt chẽ việc giám định công nghệ đối với các dự án đầu tư­, đặc biệt là những dự án sử dụng nguồn vốn ngân sách. Đưa dạng hoá và nâng mức đầu tư cho đổi mới công nghệ và nghiên cứu triển khai.

Tăng cường quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm của các tập thể khoa học và cơ quan khoa học, pháp chế hoá tư cách pháp nhân của các tập thể tự nguyện. Thành lập Hội đồng chính sách khoa học quốc gia, tăng cường một số viện theo các hướng công nghệ trọng điểm, chuyển một phần công tác nghiên cứu cơ bản về các trường đại học. Gắn khoa học, công nghệ với sản xuất và đời sống, chú ý thích đáng các vùng kinh tế chậm phát triển. Hình thành một số tổ hợp khoa học - sản xuất; đào tạo - khoa học - sản xuất.

Đổi mới mạnh mẽ chính sách đào tạo và sử dụng cán bộ khoa học, công nghệ và chuyên môn nghiệp vụ theo hướng quý trọng lao động có kỹ năng, lao động chất xám, gắn chặt và phục vụ có hiệu quả sản xuất kinh doanh và đời sống để cải thiện điều kiện sống và điều kiện làm việc, đãi ngộ thích đáng theo chất lượng và hiệu quả công việc; chăm lo bồi dưỡng và trọng dụng nhân tài; thực hiện dân chủ và sự định hướng đúng đắn trong sinh hoạt học thuật, chống độc đoán, độc quyền, độc tôn trong nghiên cứu, phát huy đầy đủ vai trò và chức năng của các hội đồng khoa học các cấp, nâng cao hiệu quả hoạt động của các hội khoa học và công nghệ.

Mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ gắn với việc giải quyết các nhiệm vụ khoa học và công nghệ ưu tiên, tăng cường tiềm lực cán bộ, nhất là các cán bộ chủ chốt và cơ sở vật chất - kỹ thuật cho các cơ quan khoa học trọng điểm.

- Phương hướng giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, hình thành đội ngũ lao động có tri thức và tay nghề, có năng lực thực hành, năng động và sáng tạo, có lý tưởng xã hội chủ nghĩa và đạo đức cách mạng, kế thừa được những truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu được những tinh hoa của thời đại. Nhà trường đào tạo thế hệ trẻ có khả năng thích ứng với những thay đổi về nghề nghiệp trong nền kinh tế hàng hoá, có bản lĩnh tự tạo được việc làm, có ý thức thực hiện nghĩa vụ công dân.

Nhiệm vụ chung của 5 năm tới là tiếp tục đổi mới, ổn định, phát triển và nâng cao chất lượng sự nghiệp giáo dục và đào tạo. Coi trọng chất lượng giáo dục chính trị, đạo đức cho học sinh lớn tuổi và sinh viên; hiện đại hoá một bước nội dung, phương pháp giáo dục; dân chủ hoá nhà trường và quản lý giáo dục; đưa dạng hoá loại hình đào tạo và loại hình trường học; chú ý phát triển loại trường vừa học, vừa làm; liên kết nhà trường với gia đình và xã hội. Tiếp tục thực hiện phổ cập giáo dục cấp I kết hợp chống mù chữ; mở rộng đào tạo nghề; phát triển những tài năng; bồi dưỡng nhiều người giỏi về khoa học, công nghệ, kinh doanh, về quản lý kinh tế, xã hội và nhiều công nhân lành nghề, nâng cao trình độ văn hoá, khoa học, kỹ thuật cho người lao động trong các ngành kinh tế.

Giáo dục là một động lực mạnh mẽ để phát triển kinh tế, hiện đại hoá đất nước. Đầu tư cho giáo dục là loại đầu tư có lợi nhất. Phải khai thác mọi nguồn đầu tư có thể khai thác được, đặc biệt là những tiềm năng trong nhân dân và hợp tác quốc tế. Từng bước hình thành những trường bán công, dân lập và tư thục (dạy nghề) để khai thác năng lực của xã hội tham gia xây dựng giáo dục; ngân sách nhà nước chủ yếu tập trung có trọng điểm cho những trường quốc lập.

Nhiệm vụ cụ thể của các ngành học: Củng cố ổn định trường lớp hiện có của giáo dục mầm non, xây dựng hệ thống trường điểm, phát triển đưa dạng các loại hình nhà trẻ, trường mẫu giáo dân lập, nhóm trẻ gia đình, tổ chức toàn xã hội thực hiện chống suy dinh dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Phổ cập cấp I và chống mù chữ phải thực hiện với một chương trình trên địa bàn cả nước; phổ cập cấp II ở những vùng phát triển mạnh kinh tế hàng hoá. Củng cố và phát triển trường phổ thông cho trẻ em có tật. Thực hiện phân ban và phân hoá đào tạo học sinh phổ thông trung học; kết hợp trung học phổ thông với trung học chuyên nghiệp và dạy nghề. Khuyến khích việc dạy nghề trong xã hội. Kết hợp đào tạo tại chức với giáo dục bổ túc nhằm đáp ứng nhu cầu học tập của cán bộ và nhân dân. Sắp xếp lại các trường đại học và cao đẳng và trung học chuyên nghiệp. Nâng cao chất lượng chính trị và chuyên môn cho các thầy giáo. Mở rộng một cách hợp lý quy mô đào tạo đại học, chú trọng đào tạo cao học theo hướng chuyên sâu, tăng số lượng và chất lượng đào tạo phó tiến sĩ và tiến sĩ trong nước. Tăng cường liên kết đào tạo, nghiên cứu khoa học và sản xuất đạt hiệu quả kinh tế và giáo dục. Sửa đổi chế độ tuyển sinh và chế độ học bổng. Đẩy mạnh nghiên cứu, thực nghiệm giáo dục tiếp cận với thực tiễn trong nước và thế giới hiện đại.

Tăng cường đầu tư của Nhà nước để phát triển giáo dục miền núi và vùng dân tộc ít người, mở rộng các trường nội trú, quy hoạch đào tạo cán bộ và trí thức người dân tộc.

Nhanh chóng đổi mới hệ thống đào tạo giáo viên và chính sách đối với đội ngũ làm công tác giáo dục đồng bộ với những đổi mới về nội dung, phương pháp giáo dục. Thiết thực cải thiện đời sống giáo viên.

Bảo đảm số lượng và nâng cao chất lượng sách giáo khoa. Đầu tư có trọng điểm cơ sở vật chất, thiết bị giáo dục cho hệ thống trường chuẩn. Khai thác mọi tiềm năng để tăng thêm cơ sở trường lớp, thiết bị giáo dục.

II- Chính sách xã hội

Mục tiêu của chính sách xã hội là mục tiêu của phát triển kinh tế, thể hiện sự hài hoà giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hoá, xã hội; giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội; giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần của nhân dân; phát huy sức mạnh tổng hợp của nhân tố con người. Phát triển kinh tế là cơ sở và tiền đề để thực hiện các chính sách xã hội. Chính sách xã hội đúng đắn là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế.

Chính sách xã hội đúng và thực hiện tốt thể hiện tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội. Với một trình độ kinh tế nhất định, có thể có mức sống, lối sống cũng như quan hệ giữa người và người tốt đẹp hơn nếu có chính sách xã hội đúng đắn và biết tổ chức thực hiện tốt chính sách đó. Phải huy động được sức mạnh của toàn dân vào việc thực hiện chính sách xã hội.

1. Đời sống

a) Phương hướng giải quyết đời sống

- Bảo đảm đầy đủ hơn các nhu cầu thiết yếu của nhân dân; đáp ứng những nhu cầu ngày càng đưa dạng của các tầng lớp dân cư. Giải quyết tốt các vấn đề xã hội và thực hiện công bằng xã hội.

- Bảo đảm vững chắc nhu cầu lương thực, khắc phục tình trạng thiếu đói thường xuyên và nạn đói giáp hạt ở một số vùng; nâng mức cung ứng và tiêu dùng thực phẩm, cải thiện dinh dưỡng bữa ăn của đông đảo nhân dân. Giảm bớt tình trạng suy dinh dưỡng, trước nhất là của các bà mẹ và trẻ em. Cải thiện điều kiện phòng bệnh, chữa bệnh, phát triển phong trào rèn luyện thân thể.

- Cải thiện điều kiện ở của nhân dân, chú trọng các thành phố lớn, nông thôn đồng bằng sông Cửu Long, các vùng hay gặp thiên tai. Hướng dẫn phát triển đô thị và nông thôn theo quy hoạch. Từng bước cải thiện các điều kiện vệ sinh công cộng, bảo vệ môi trường, xây dựng nếp sống văn minh. Phát triển và nâng cao chất lượng hệ thống giao thông công cộng.

Sản xuất các mặt hàng tiêu dùng đưa dạng, với chất lượng tốt hơn, phù hợp nhu cầu và thị hiếu của các tầng lớp nhân dân.

- Mở rộng màng lưới và nâng cao chất lượng hoạt động các loại hình dịch vụ phục vụ đời sống nhân dân.

b) Chính sách tiền lương và thu nhập:

Khuyến khích mọi người tăng thu nhập và làm giàu chính đáng, dựa vào kết quả lao động. Bảo hộ các nguồn thu nhập hợp pháp. Điều tiết hợp lý mức thu nhập cá nhân. Đấu tranh ngăn chặn thu nhập phi pháp.

Đổi mới cơ bản chính sách tiền lương và tiền công theo các nguyên tắc: xem tiền lương và tiền công là một yếu tố của quá trình tái sản xuất xã hội, cải tiến chế độ tiền lương là một bộ phận của đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, thực hiện phân phối theo lao động, khuyến khích tài năng và cống hiến, khắc phục phân phối bình quân; tiền tệ hoá tiền lương, xoá bỏ chế độ bao cấp ngoài lương dưới hình thức hiện vật; mức lương tối thiểu được luật pháp bảo đảm; thực hiện mối tương quan hợp lý về tiền lương và thu nhập của các bộ phận lao động xã hội. Trên cơ sở tinh giản bộ máy và biên chế, sửa đổi chính sách tiền lương trong năm 1991 với bước đi hợp lý.

Đối với chiến sĩ lực lượng vũ trang, thực hiện tốt chế độ cung cấp đủ tiêu chuẩn hiện vật theo định lượng. Có chính sách thoả đáng để sĩ quan và quân nhân chuyên nghiệp yên tâm làm nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc. Có chế độ phụ cấp giúp sĩ quan và quân nhân xuất ngũ có thêm điều kiện tạo lập cuộc sống mới.

c) Các chính sách bảo trợ xã hội

Đổi mới chính sách bảo hiểm xã hội theo hướng: mọi người lao động và đơn vị kinh tế thuộc các thành phần đều có trách nhiệm đóng góp vào quỹ bảo hiểm xã hội, Nhà nước hỗ trợ một phần và làm người bảo trợ cho quỹ bảo hiểm xã hội; từng bước tách quỹ bảo hiểm xã hội đối với công nhân, viên chức nhà nước khỏi ngân sách và hình thành quỹ bảo hiểm xã hội chung cho người lao động thuộc mọi thành phần kinh tế; quỹ bảo hiểm xã hội phải tiến đến hoạt động theo nguyên tắc hạch toán kinh doanh, tự trang trải.

Chăm sóc thương binh, gia đình liệt sĩ và những người có công với cách mạng vừa là trách nhiệm của Nhà nước, vừa là trách nhiệm của toàn dân. Ban hành chế độ toàn dân đóng góp vào quỹ đền ơn, trả nghĩa để chăm lo đời sống cho thương binh, gia đình liệt sĩ và những người có công với cách mạng.

Hình thành các tổ chức của người tàn tật và vì người tàn tật, các hội từ thiện, tổ chức việc giúp đỡ người già cô đơn và trẻ mồ côi, những người cơ nhỡ, bất hạnh trong cuộc sống. Giải quyết những vấn đề này phải vừa bằng trách nhiệm, vừa bằng nghĩa tình của toàn xã hội. Nhà nước dành một phần quỹ dự phòng của ngân sách để chủ động cứu giúp những người gặp tai nạn do thiên tai.

d) Công tác bảo vệ sức khoẻ, nâng cao thể lực của nhân dân

Bảo vệ và nâng cao sức khoẻ, thể lực của nhân dân phải trở thành hoạt động tự giác của mỗi người, có sự phối hợp chặt chẽ của Nhà nước và của toàn xã hội.

Phát triển các hoạt động y tế bằng khả năng của Nhà nước và của nhân dân, theo hướng dự phòng là chính; kết hợp y học hiện đại với y học dân tộc; sắp xếp lại hệ thống y tế, củng cố y tế cơ sở, đặc biệt ở miền núi. Chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho mọi người với chất lượng tốt hơn hiện nay. Xây dựng kế hoạch bảo vệ sức khoẻ theo vùng lãnh thổ để có sự chăm sóc thích hợp hơn. Từng bước khắc phục về cơ bản các bệnh nhiễm trùng và ký sinh trùng, xoá bỏ bệnh sốt rét, bướu cổ, ngăn ngừa các bệnh nguy hiểm mới phát sinh trên thế giới. Có những biện pháp thiết thực để bảo vệ, chăm sóc bà mẹ và trẻ em, thực hiện tốt dự phòng tích cực ngay trong thời kỳ thai nhi.

Bảo đảm nhu cầu về thuốc chữa bệnh. Mở rộng công nghiệp trang thiết bị y tế, xây dựng công nghiệp hoá dược và kháng sinh, mở rộng nuôi trồng cây con làm thuốc để đáp ứng yêu cầu nguyên liệu làm thuốc trong nước và xuất khẩu. Đổi mới công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học trên lĩnh vực y dược, tranh thủ mở rộng hợp tác quốc tế, sử dụng có hiệu quả các nguồn viện trợ và phát triển bảo hiểm khám, chữa bệnh để thực hiện công bằng xã hội về chăm sóc sức khoẻ, tăng ngân sách cho hoạt động khám, chữa bệnh.

Phát triển khoa học y học, xây dựng các mũi nhọn y học, y tế Việt Nam, chú trọng đào tạo nhân tài, tiếp nhận tiến bộ khoa học thế giới ứng dụng thích hợp vào nước ta trên cơ sở Đông - Tây y kết hợp.

Công tác thể dục, thể thao cần tập trung nâng cao chất lượng giáo dục thể chất trong các trường học; tổ chức hướng dẫn và vận động đông đảo nhân dân tham gia các hình thức rèn luyện thân thể hằng ngày; nâng cao chất lượng các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng vận động viên, nâng cao thành tích một số môn thể thao. Cải tiến tổ chức, quản lý các hoạt động thể dục thể thao theo hướng kết hợp chặt chẽ các tổ chức nhà nước và các tổ chức xã hội, phát huy vai trò sáng tạo của quần chúng. Tạo các điều kiện về cán bộ, cơ sở vật chất và khoa học - kỹ thuật để phát triển nhanh một số môn thể thao Việt Nam có truyền thống.

2. Dân số và việc làm

Giảm tốc độ tăng dân số có ý nghĩa quyết định đối với việc ổn định và cải thiện đời sống nhân dân, phải trở thành một cuộc vận động xã hội rộng lớn, mạnh mẽ và sâu sắc trong toàn dân. Bảo đảm đủ kinh phí, phương tiện, cán bộ để đẩy mạnh cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch, đồng thời thực hiện kiên quyết các biện pháp giáo dục hành chính và khuyến khích, xử phạt về kinh tế. Củng cố các tổ chức chuyên trách công tác dân số và kế hoạch hoá gia đình để hoạt động thiết thực và có hiệu quả.

Giải quyết việc làm phải được coi là một trong những mục tiêu ưu tiên của kế hoạch nhà nước 1991-1995.

Phương hướng quan trọng nhất để giải quyết việc làm là thực hiện tốt chiến lược phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần. Kết hợp giữa giải quyết việc làm tại chỗ với phân bố lại lao động theo vùng lãnh thổ, xây dựng các khu kinh tế mới, hình thành các cụm kinh tế - kỹ thuật - dịch vụ nhỏ ở nông thôn, ở các thị trấn, thị tứ, đồng thời mở rộng xuất khẩu lao động.

Bằng nhiều con đường và nhiều hình thức khác nhau, tạo chỗ làm việc cho số thanh niên bước vào tuổi lao động, bộ đội hoàn thành nghĩa vụ quân sự, số lao động dôi ra do sắp xếp lại biên chế, lao động từ nước ngoài về, học sinh tốt nghiệp các trường đại học, cao đẳng và dạy nghề. Trọng tâm giải quyết việc làm cho thanh niên và ở đô thị.

Đổi mới quan niệm về việc làm và cơ chế giải quyết việc làm, từ bỏ thói quen trông chờ Nhà nước đào tạo nghề theo kiểu bao cấp và phân phối tất cả học sinh ra trường vào bộ máy nhà nước và các cơ sở quốc doanh. Đưa dạng hoá việc làm và thu nhập để thu hút lao động của mọi thành phần kinh tế. Giải quyết việc làm là trách nhiệm của mọi ngành, mọi cấp, mọi đơn vị thuộc mọi thành phần kinh tế, của từng gia đình, từng người, với sự đầu tư của Nhà nước, các đơn vị kinh tế và nhân dân. Sớm ban hành Luật lao động và các quy chế cụ thể để bảo đảm quyền lợi, trách nhiệm và nghĩa vụ của người lao động và người sử dụng lao động.

Ngoài việc tạo môi trường thuận lợi cho sản xuất, kinh doanh, Nhà nước ưu tiên cho vay hoặc tài trợ một phần về vốn ban đầu để người lao động tự tạo việc làm, nhất là trong lĩnh vực sản xuất của cải vật chất.

Tận dụng các cơ sở đào tạo hiện có của Nhà nước để phát triển hoạt động dạy nghề và giới thiệu việc làm, hình thành hệ thống hướng nghiệp đưa dạng; đồng thời khuyến khích phát triển các hoạt động dịch vụ của các thành phần kinh tế về đào tạo nghề, giới thiệu việc làm và hướng dẫn tổ chức sản xuất, kinh doanh cho người lao động.

3. Xây dựng con người mới, nền văn hoá mới

Giáo dục, văn hoá, văn học, nghệ thuật có tác động sâu sắc đến sự hình thành, giữ gìn và bồi đắp nhân cách, bản lĩnh con người Việt Nam, xây dựng con người mới. Đó là con người yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, yêu lao động, bảo vệ của công, sống lành mạnh, có tình, có nghĩa, giàu lòng nhân ái, có ý thức nghĩa vụ công dân, có kiến thức văn hoá và trình độ thẩm mỹ và thể lực tốt.

Gia đình là tổ ấm và tế bào của xã hội, có vai trò quan trọng trong việc nuôi nấng, dạy dỗ, hình thành tính cách và đạo đức mới của con người từ tuổi ấu thơ. Tổ chức tốt đời sống vật chất, văn hoá và tình cảm trong gia đình là môi trường đầu tiên để hình thành nhân cách. Các cơ quan nhà nước phối hợp các đoàn thể tổ chức nghiên cứu vấn đề gia đình để xây dựng chính sách kinh tế - xã hội và luật pháp về gia đình, đưa vấn đề gia đình vào ch­ương trình giảng dạy của các trường học và các hoạt động khác.

Xây dựng con người mới, lối sống mới là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài và phải có sự kết hợp chặt chẽ giữa gia đình, nhà trường và xã hội. Tạo ra môi trường và dư luận xã hội về đời sống có văn hoá, đấu tranh mạnh mẽ với lối sống cá nhân ích kỷ, xa hoa, đồi truỵ, mê tín dị đoan.

Tiếp tục xây dựng và phát triển sự nghiệp văn hoá Việt Nam, một nền văn hoá mang tính nhân đạo, tiến bộ, phát huy được tiềm năng sáng tạo của con người. Bảo tồn và phát huy truyền thống văn hoá của dân tộc, kế thừa và phát triển những giá trị tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại, hướng con người lưuôn lưuôn vươn tới chân, thiện, mỹ.

Bảo vệ, tôn tạo những di tích lịch sử, văn hoá, danh lam thắng cảnh; giữ gìn, khôi phục những nghi lễ, phong tục, tập quán tốt đẹp; xoá bỏ những tập quán xấu, mê tín dị đoan; kịp thời phát huy những nhân tố tích cực đang hình thành trong xã hội.

Nhà nước cần đầu tư thích đáng cho việc đào tạo, bồi dưỡng các nhân tài văn hoá, chăm sóc các nhà văn hoá, các văn nghệ sĩ có tài năng, có nhiều cống hiến, đồng thời huy động rộng rãi sự đóng góp của mọi người Việt Nam ở trong nước và ở nước ngoài, của các tổ chức xã hội và tổ chức quốc tế để nuôi dưỡng và phát triển sự nghiệp văn hoá của nước ta.

Văn học nghệ thuật là một bộ phận quan trọng trong nền văn hoá, gắn bó với đời sống nhân dân và sự nghiệp cách mạng do Đảng lãnh đạo. Mọi sáng tạo văn học, nghệ thuật đều hướng tới sự hoàn thiện con người, bồi dưỡng tâm hồn, tình cảm cao đẹp của con người; khẳng định và biểu dương tinh thần tự hào dân tộc, tự lực, tự cường phấn đấu làm cho dân giàu, nước mạnh. Qua phong trào sáng tạo văn học, nghệ thuật của quần chúng mà phát hiện, bồi dưỡng và phát huy mọi tài năng, chú ý tài năng trẻ, giúp đỡ những nhân tài có khả năng sáng tạo tác phẩm lớn. Nâng cao chất lượng công tác lý luận, nghiên cứu, giới thiệu và phê bình văn học, nghệ thuật.

Tác phẩm văn hoá, văn học, nghệ thuật có tính đến giá cả, nhưng không thể coi là một loại hàng hoá thông thường. Phải tính toán hiệu quả từ giá trị tư tưởng, tình cảm mà nó mang lại cho người thưởng thức. Nghiêm trị những người truyền bá và kinh doanh văn hoá phẩm phản động, đồi truỵ làm đồi phong, bại tục.

Các hội sáng tạo văn học, nghệ thuật cần đổi mới phương thức hoạt động cho phù hợp với tính chất, chức năng là hội nghề nghiệp, hoạt động tự quản, tự nguyện và thực sự dân chủ, phát huy mọi năng lực sáng tạo của hội viên.

Phát triển sự nghiệp thông tin, báo chí, xuất bản theo hướng nâng cao chất lượng, đáp ứng nhu cầu thông tin và nâng cao kiến thức văn hoá của nhân dân. Tạo điều kiện thuận lợi về đời sống và làm việc, tăng cường bồi dưỡng phẩm chất chính trị, trình độ chính trị, lý luận, nghiệp vụ và kiến thức các mặt cho cán bộ lãnh đạo, quản lý, biên tập viên và phóng viên.

Trong 5 năm tới cần chú ý:

- Phổ biến rộng rãi trong nhân dân những kiến thức văn hoá cần thiết cho sản xuất và đời sống, phát động phong trào quần chúng bài trừ văn hoá phản động, đồi truỵ, mê tín, dị đoan.

- Vận động toàn dân thực hiện lối sống cần kiệm, bảo vệ của công, giữ gìn vệ sinh, trật tự, văn minh, lịch sự nơi công cộng.

- Tăng đầu tư về phương tiện phát thanh, truyền hình và máy thu thanh, đưa thông tin đến mọi nhà cả ở thành thị và nông thôn, đến các vùng rừng núi, xa xôi và nhiều nước trên thế giới.

- Cải tiến công tác quản lý nhà nước đối với các hoạt động văn hoá, nghệ thuật. Tăng cường cơ sở vật chất - kỹ thuật trong lĩnh vực này; đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của các đơn vị văn hoá, nghệ thuật.

- Xây dựng trong toàn Đảng và bộ máy nhà nước ý thức chăm lo sự nghiệp văn hoá, văn nghệ, để tạo ra được bước phát triển mới trên lĩnh vực này, mặc dù đời sống kinh tế trước mắt còn có khó khăn.

4. Một số vấn đề về dân tộc, tôn giáo và người Việt Nam ở nước ngoài

Đoàn kết rộng rãi toàn dân tộc, phát huy khả năng của mọi tầng lớp nhân dân, mọi giới, mọi ngành trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước là chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước ta.

Đoàn kết, bình đẳng, giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc, cùng xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc, đồng thời giữ gìn và phát huy bản sắc tốt đẹp của mỗi dân tộc. Tổng kết và có nghị quyết Trung ương về chính sách dân tộc trong giai đoạn mới. Nhà nước cần có chính sách và kế hoạch khuyến khích và hỗ trợ các dân tộc thiểu số phát triển sản xuất hàng hoá phù hợp với điều kiện và đặc điểm từng vùng, từng dân tộc và gắn bó chặt chẽ với các vùng, các dân tộc anh em trong cả nước; bảo đảm cho đồng bào các dân tộc ở mọi vùng khai thác được thế mạnh của địa phương để làm giàu cho mình và đóng góp vào sự nghiệp xây dựng đất nước. Đi đôi với phát triển kinh tế, chú trọng phát triển văn hoá xã hội, đẩy mạnh ch­ương trình chống bệnh sốt rét, bệnh bướu cổ, khắc phục một số bệnh, dịch làm suy yếu nòi giống. Mở rộng công tác thông tin, văn hoá bằng các hình thức và phương tiện thích hợp. Khuyến khích sử dụng tiếng nói và chữ dân tộc trong công tác giáo dục, thông tin, xuất bản. Có chính sách ưu tiên phát triển giáo dục, đào tạo, sử dụng cán bộ dân tộc thiểu số.

Bảo đảm cho người Hoa hưởng mọi quyền và nghĩa vụ công dân, tạo điều kiện để bà con người Hoa yên tâm làm ăn, góp phần xây dựng đất nước Việt Nam và vun đắp quan hệ hữu nghị giữa nhân dân hai nước Việt - Trung.

Tín ngưỡng tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân và còn tồn tại lâu dài. Đạo đức tôn giáo có nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới. Nhà nước cần ban hành các chính sách thể hiện nhất quán chính sách của Đảng và Nhà nước ta tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân, thực hiện bình đẳng và đoàn kết lương - giáo, chăm lo giải quyết những lợi ích thiết thân của đồng bào có đạo, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, giúp đồng bào nâng cao trình độ mọi mặt và phát huy khả năng đóng góp vào sự nghiệp chung của dân tộc xây dựng và bảo vệ đất nước. Khắc phục mọi thái độ hẹp hòi, thành kiến, phân biệt đối xử với đồng bào có đạo, vi phạm chính sách tôn giáo của Nhà nước, đồng thời nghiêm cấm và ngăn chặn mọi hành vi lợi dụng tôn giáo, phá hoại độc lập và đoàn kết dân tộc, chống phá chủ nghĩa xã hội, ngăn cản tín đồ làm nghĩa vụ công dân.

Đối với những người đã tham gia chính quyền và quân đội dưới chế độ cũ, Đảng, Nhà nước và xã hội ta đánh giá căn cứ chủ yếu vào thái độ và việc làm của họ trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước, bất kể quá khứ của họ thế nào; xoá bỏ mọi thành kiến và mặc cảm. Nhà nước cần tạo điều kiện để họ đóng góp tài năng và sức lực vào sự nghiệp dân giàu nước mạnh.

Hơn hai triệu người Việt Nam định cư­ ở nước ngoài có mối quan hệ gắn bó với thân nhân ở trong nước, với quê h­ương, đất nước. Bà con dù mang quốc tịch nước nào, chính kiến ra sao vẫn mang trong mình dòng máu Việt Nam. Đảng và Nhà nước ta hoan nghênh bà con giữ gìn bản sắc, truyền thống và giá trị văn hoá dân tộc, tình cảm gắn bó với quê hương, đất nước, đoàn kết giúp đỡ nhau trong cuộc sống, xây dựng quan hệ tốt đẹp với nhân dân sở tại, đồng thời quan tâm theo dõi, ủng hộ và đóng góp bằng những hình thức thích hợp vào công cuộc xây dựng đất nước, quê h­ương. Cần tổ chức tốt việc thông tin giới thiệu tình hình trong nước và tạo điều kiện dễ dàng để bà con người Việt ở nước ngoài về thăm đất nước.

III- Nhiệm vụ quốc phòng và an ninh

1. Yêu cầu đối với quốc phòng là tiếp tục bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và lãnh thổ toàn vẹn của Tổ quốc, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, ngăn chặn và làm thất bại mọi âm m­ưu và hành động phá hoại của kẻ thù. Bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, củng cố nền quốc phòng toàn dân, xây dựng các lực lượng vũ trang nhân dân là nhiệm vụ của toàn dân, toàn quân, của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Thực hiện yêu cầu đó, cần tiến hành những nhiệm vụ lớn sau đây:

Ra sức củng cố nền quốc phòng toàn dân trên cơ sở đẩy mạnh xây dựng các khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố trong thế trận chiến tranh nhân dân; kết hợp chặt chẽ kinh tế và quốc phòng, quốc phòng và kinh tế trong quy hoạch chung của cả nước và trên từng địa phương, bảo đảm mỗi bước phát triển kinh tế là một bước nâng cao tiềm lực quốc phòng.

Xây dựng các lực lượng vũ trang nhân dân với số quân thường trực hợp lý và có chất lượng theo hướng chính quy và từng bước hiện đại, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có chất lượng và sức chiến đấu cao. Đồng thời ra sức xây dựng lực lượng dự bị động viên, đưa công tác quản lý và huấn luyện đi vào nền nếp, bảo đảm khi cần thiết có thể động viên được nhanh chóng theo kế hoạch.

Duy trì năng lực sản xuất quốc phòng hiện có, đầu t­ư chiều sâu để nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Xây dựng và hoàn chỉnh quy hoạch dài hạn và kế hoạch 5 năm về công nghiệp quốc phòng, hoàn thành việc chuyển các xí nghiệp quốc phòng sang cơ chế quản lý mới.

Tham gia xây dựng kinh tế là một nhiệm vụ lâu dài của quân đội. Sử dụng có hiệu quả tiềm năng lao động, lực lượng khoa học, cơ sở vật chất - kỹ thuật của quân đội, đáp ứng nhu cầu của quân đội và của xã hội. Hiệu quả làm kinh tế của quân đội được xem xét trên cả hai mặt kinh tế và quốc phòng.

Chăm lo công tác đảng, công tác chính trị, tư­ tưởng, kiện toàn tổ chức. Nâng cao chất lượng mọi mặt của đội ngũ cán bộ: chất lượng chính trị, trình độ lãnh đạo, chỉ huy, kiến thức khoa học - kỹ thuật và tác phong công tác. Nghiên cứu và thực hiện chính sách đối với quân đội và hậu phương quân đội. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội và sự nghiệp quốc phòng, bảo đảm quân đội lưuôn lưuôn là lực lượng tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, nhân dân, vững vàng về chính trị trong mọi tình huống và góp phần tích cực giữ vững sự ổn định về chính trị.

2. Yêu cầu đối với công tác an ninh, trật tự vẫn là giữ vững an ninh quốc gia, bảo đảm sự ổn định chính trị của đất nước, bảo vệ và phục vụ đắc lực công cuộc đổi mới về mọi mặt. Tập trung làm chuyển biến rõ rệt tình hình trật tự an toàn xã hội, trước hết ở các trọng điểm: thành phố lớn, các tuyến biên giới, bờ biển, khu vực công nghiệp tập trung.

Thời gian tới, cuộc đấu tranh chống các thế lực thù địch và các loại tội phạm sẽ còn gay go, quyết liệt. Bảo vệ an ninh quốc gia bao gồm an ninh chính trị, an ninh kinh tế, an ninh tư­ tưởng, văn hoá, xã hội là một trong các nhiệm vụ hàng đầu và thường xuyên của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Nhiệm vụ đó đòi hỏi phải được tiến hành bằng sức mạnh tổng hợp của toàn dân, toàn quân dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự chỉ đạo chặt chẽ của chính quyền các cấp.

Trong bảo vệ an ninh đất nước, tập trung mũi nhọn đấu tranh vào bọn cố ý phá hoại công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta, chống lại Đảng và Nhà nước ta; phục vụ đắc lực cho việc phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng khối đoàn kết toàn dân và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa; mở rộng quan hệ đối ngoại, hợp tác kinh tế, văn hoá, khoa học - kỹ thuật với nước ngoài.

Những công tác lớn cần tiến hành là:

- Phát động phong trào bảo vệ an ninh trong cơ quan, xí nghiệp và địa bàn dân cư­, xây dựng cơ quan, xí nghiệp an toàn, xã, ph­ờng vững mạnh, hình thành thế trận an ninh liên hoàn vững chắc, thực hiện phòng ngừa và đấu tranh có hiệu quả chống các thế lực thù địch và bọn tội phạm.

- Xây dựng các tổ chức đảng và cơ quan nhà nước trong sạch, bảo vệ vững chắc an ninh nội bộ, chống âm mưu "diễn biến hoà bình". Bảo vệ sự đoàn kết trong Đảng, trong nhân dân; ngăn chặn có hiệu quả những âm mưu, hành động phá hoại, những cuộc bạo loạn cục bộ của kẻ địch.

- Củng cố các cơ quan bảo vệ pháp luật cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức và trình độ nghiệp vụ; tiếp tục thể chế hoá nhiệm vụ bảo vệ an ninh trật tự. Xử lý nghiêm minh và kịp thời bọn buôn lậu, tham nhũng, những kẻ ức hiếp, sách nhiễu dân, xâm phạm tính mạng và tài sản của nhân dân.

Xây dựng lực lượng công an nhân dân vững mạnh, trong sạch, bảo đảm là công cụ chuyên chính sắc bén và tin cậy của Nhà nước và nhân dân. Lực lượng này phải luôn luôn là một đội quân chính trị vững vàng, trung thành và gắn bó với nhân dân, biết làm công tác quần chúng, tinh thông về nghiệp vụ, được trang bị tốt về cơ sở vật chất và phương tiện kỹ thuật. Đồng thời quan tâm xây dựng lực lượng nửa chuyên trách rộng, mạnh, kết hợp chặt chẽ giữa lực lượng chuyên trách, lực lượng nửa chuyên trách và phong trào quần chúng.

IV- Nhiệm vụ và chính sách đối ngoại

Kiên trì đường lối độc lập tự chủ và đoàn kết quốc tế mà Đảng ta đã đề ra, nhiệm vụ đối ngoại bao trùm trong thời gian tới là giữ vững hoà bình, tranh thủ điều kiện quốc tế thuận lợi để thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới, làm cho nước ta ngày càng ổn định về chính trị, xã hội, phát triển nhanh về kinh tế, đủ mạnh về quốc phòng, đáp ứng lợi ích của nhân dân ta, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Chúng ta cần vững vàng, nhạy bén nhận thức được sự diễn biến phức tạp, những thay đổi sâu sắc trong quan hệ quốc tế. Những nguồn lực bên trong và vị trí địa lý thuận lợi của nước ta sẽ được nhân lên nếu chúng ta biết kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, tận dụng được những thành quả của cách mạng khoa học - kỹ thuật và những tiềm năng khác của thế giới.

Chúng ta tranh thủ tới mức cao hiệu quả hợp tác quốc tế, xoá bỏ tư­ tưởng ỷ lại, tư tưởng tự cấp tự túc, mở rộng quan hệ với các nước có chế độ chính trị - xã hội khác nhau trên cơ sở các nguyên tắc cùng tồn tại hoà bình.

Những quan điểm cơ bản nêu trên phải được quán triệt trong tất cả các lĩnh vực hoạt động đối ngoại nhằm tạo nên sức mạnh tổng hợp phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Tăng cường đoàn kết và hợp tác với Liên Xô là nội dung nhất quán trong đường lối đối ngoại của ta. Đổi mới phương thức và nâng cao hiệu quả hợp tác Việt - Xô đáp ứng lợi ích của mỗi nước.

Trong tình hình mới, không ngừng củng cố, phát triển quan hệ hữu nghị và đoàn kết đặc biệt giữa Đảng và nhân dân ta với Đảng và nhân dân Lào và Campuchia anh em, coi đây là nhân tố quan trọng cho sự nghiệp phát triển của mỗi nước, đồng thời đổi mới phương thức hợp tác, chú trọng hiệu quả, trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng độc lập, chủ quyền và lợi ích chính đáng của nhau.

Thúc đẩy quá trình bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc, từng bước mở rộng sự hợp tác Việt - Trung, đồng thời giải quyết những vấn đề tồn tại giữa hai nước thông qua thương lượng hoà bình.

 Không ngừng củng cố quan hệ hữu nghị, đoàn kết, hợp tác cùng có lợi và bình đẳng với Cuba và các nước xã hội chủ nghĩa khác.