2    7    2    8    5    7    
BẢN TIN THÔNG BÁO NỘI BỘ
Số: 213 - 2014
MỤC LỤC
Văn kiện Đảng bộ tỉnh Hưng Yên/ Báo cáo Chính trị trình Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII

  

Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ; phát huy lợi thế và sức mạnh tổng hợp của toàn dân; tiếp tục đổi mới toàn diện, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại  hoá, tạo nền tảng vững chắc để Hưng Yên cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp trước năm 2020

(Báo cáo Chính trị trình Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII)

Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII tiến hành trong không khí phấn khởi kỷ niệm các ngày lễ lớn của dân tộc và những thành tựu quan trọng của Đảng bộ và nhân dân Hưng Yên đạt được sau 14 năm tái lập. Đại hội có nhiệm vụ đánh giá việc thực hiện Nghị quyết Đại hội XVI Đảng bộ tỉnh; đề ra mục tiêu nhiệm vụ, giải pháp 5 năm 2011-2015 và định hướng đến năm 2020.

Đại hội có ý nghĩa trọng đại, định hướng cho Đảng bộ và nhân dân trong tỉnh tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo toàn diện của Đảng bộ, phát huy lợi thế và sức mạnh tổng hợp của toàn dân; tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng đồng bộ hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội, tạo nền tảng vững chắc để Hưng Yên cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp trước năm 2020.

I. Đánh giá thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI

A. Thành tựu đã đạt được

Sau 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI, trong bối cảnh chịu sự tác động không nhỏ của thời tiết, thiên tai, dịch bệnh, nhất là cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu; Đảng bộ và nhân dân Hưng Yên với quyết tâm cao, đoàn kết thống nhất, chủ động, sáng tạo, nỗ lực phấn đấu, vượt qua nhiều khó khăn, thách thức đã giành được những thành tựu quan trọng, hoàn thành khá toàn diện mục tiêu Đại hội đề ra.

          1. Kinh tế đạt nhiều kết quả, tăng trưởng khá

          Mặc dù có nhiều khó khăn, thách thức, kinh tế tỉnh ta vẫn duy trì tăng trưởng khá. Tốc độ tăng trưởng bình quân 5 năm đạt 11,74% (mục tiêu Đại hội 13,5%). Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng nhanh công nghiệp và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng nông nghiệp. Năm 2010 cơ cấu kinh tế: Nông nghiệp - Công nghiệp, xây dựng - Dịch vụ ước đạt: 25%- 44%- 31% (mục tiêu Đại hội: 20%- 47%- 33%). Thu nhập bình quân đầu người đạt 20 triệu đồng (1.110 USD).

          Nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng sản xuất hàng hoá, phát triển nhanh cây, con có giá trị kinh tế cao. Giá trị sản xuất tăng bình quân 3,5%/năm (mục tiêu Đại hội 5%). Cơ cấu trong nông nghiệp năm 2010: cây lương thực 24% - cây công nghiệp, rau quả 30% - chăn nuôi, thuỷ sản 46%; giữ ổn định lương thực ở mức 450 kg/đầu người; cây vụ đông đạt 29% diện tích canh tác, phát triển được gần 4.000 trang trại, gia trại, hoạt động có hiệu quả, tạo sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng hiệu quả sản xuất nông nghiệp. Diện tích lúa chất lượng cao đạt 45% (mục tiêu Đại hội 40%). Chương trình "nạc hoá" đàn lợn, "sind hoá" đàn bò, nuôi cá rô phi đơn tính xuất khẩu, sản xuất giống lúa, rau quả chất lượng cao được quan tâm phát triển. Hưng Yên là một trong 2 tỉnh trên toàn quốc sớm thực hiện miễn thuỷ lợi phí cho nông dân; thực hiện nhiều chính sách hỗ trợ để nông nghiệp, nông thôn và nông dân đẩy mạnh sản xuất; nhiều nghề truyền thống và các loại hình dịch vụ trong nông thôn được khuyến khích phát triển.

          Quản lý và sử dụng tài nguyên, đất đai từng bước đi vào nề nếp, có hiệu quả; cơ bản đảm bảo theo quy hoạch, kế hoạch được duyệt.

          Công nghiệp phát triển nhanh, giá trị sản xuất bình quân tăng 21%/năm (mục tiêu Đại hội trên 25%). Phát triển một số ngành sản xuất có tính động lực như điện tử, dệt may, cơ khí và luyện thép với kỹ thuật tiên tiến. Sản phẩm đa dạng về chủng loại, chất lượng tốt hơn; nhiều sản phẩm có thương hiệu, sức cạnh tranh lớn trên thị trường trong nước và quốc tế. Trong 14 khu công nghiệp được quy hoạch đã có 5 khu đi vào hoạt động và 2 khu đã lấp đầy diện tích. Thu hút 813 dự án đầu tư (trong nước 633, nước ngoài 180), với tổng vốn đăng ký tương đương 3.590 triệu USD; 475 dự án đi vào hoạt động, đạt giá trị sản xuất gần 20 nghìn tỷ đồng/năm. Nhiều dự án có hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao, đóng góp trên 80% số thu ngân sách hàng năm.

Quan tâm, tạo điều kiện để các thành phần kinh tế phát triển mạnh, tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, tạo thêm nhiều việc làm, cải thiện đời sống người lao động. Bình quân mỗi năm có từ 350 đến 370 doanh nghiệp mới được thành lập, đến nay trên địa bàn tỉnh có trên 3.000 doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp.

          Thương mại, dịch vụ tăng trưởng bình quân đạt 15%/năm (mục tiêu Đại hội 16%). Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng xã hội tăng bình quân 21,14%/năm. Các dịch vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, bưu chính viễn thông, vận tải hàng hoá, hành khách được phát triển, doanh thu tăng bình quân 18%/năm. 100% số xã có bưu cục hoặc điểm bưu điện văn hoá hoạt động khá. Du lịch bước đầu phát triển với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế và sự liên kết với các địa phương lân cận, nhất là thủ đô Hà Nội; cơ sở hạ tầng các khu du lịch được đầu tư nâng cấp. Xuất khẩu duy trì tốc độ tăng cao, bình quân 19,3%/năm. Năm 2010 kim ngạch xuất khẩu uớc đạt 500 triệu USD (mục tiêu Đại hội 450 triệu USD). Giá trị xuất khẩu hàng nông sản và chế biến ngày càng tăng. Các doanh nghiệp đã chủ động củng cố thị trường truyền thống và mở rộng thị trường mới; tích cực đổi mới công nghệ sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hoá và tăng sức cạnh tranh.

          Tăng cường khai thác lợi thế, phát huy nội lực các thành phần kinh tế đầu tư phát triển để đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Tổng vốn huy động toàn xã hội trong 5 năm đạt gần 50.000 tỷ đồng, trong đó nguồn vốn đầu tư từ ngân sách Trung ương chiếm trên 10%, ngân sách địa phương gần 8%, các thành phần kinh tế khác 82%. Thu hút được 7 dự án ODA với tổng số tiền 37 triệu USD và 9,2 triệu EURO. Kết cấu hạ tầng được đầu tư lớn từ nguồn trái phiếu Chính phủ đối với các lĩnh vực: Giao thông, thuỷ lợi, giáo dục, y tế, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất, phát huy lợi thế của từng vùng và từng ngành. Trải nhựa 100% đường tỉnh và cơ bản đường huyện; xây dựng được 1.600 km đường giao thông nông thôn và 56 cầu; phê duyệt xong quy hoạch thuỷ lợi, xây mới 16 trạm bơm; cải tạo nâng cấp cơ bản hệ thống kênh mương, nâng cao hiệu quả tưới tiêu. Cơ sở vật chất giáo dục, y tế được tăng cường, xây mới trên 1.200 phòng học, nâng tỷ lệ phòng học kiên cố cao tầng bậc mầm non đạt trên 50%, bậc phổ thông 88,5%; nâng cấp Bệnh viện đa khoa tỉnh và 10 trung tâm y tế  huyện; xây mới và đưa vào hoạt động Bệnh viện đa khoa 2 Phố Nối; Bưu chính, viễn thông được đầu tư cải tạo, nâng cấp hiện đại, đáp ứng nhu cầu thông tin phát triển kinh tế - xã hội. Một số công trình trọng điểm có ý nghĩa kinh tế - xã hội được đầu tư và hoàn thành, như cầu Yên Lệnh, Quảng trường và đường Nguyễn Văn Linh.

          Thu ngân sách tăng bình quân trên 15%/năm (năm 2010 đạt 3.000 tỷ đồng, trong đó thu nội địa 2.400 tỷ đồng). Công tác quản lý thuế được cải tiến, đơn giản hoá nhiều thủ tục hành chính; thực hiện đồng bộ các giải pháp tăng thu, thu đúng, thu đủ, kịp thời vào ngân sách nhà nước và nuôi dưỡng nguồn thu. Tỷ lệ huy động GDP vào ngân sách bình quân đạt 18 - 20%.

          Chi ngân sách bình quân đạt 1.800 tỷ đồng/năm, bảo đảm đúng quy định. Quản lý và điều hành tài chính - ngân sách có nhiều tiến bộ, tăng cường phân cấp, tính tự chủ và nâng cao trách nhiệm quản lý ngân sách các cấp, các cơ quan, đơn vị; thực hiện có hiệu quả chế độ khoán biên chế và kinh phí ổn định cho các đơn vị hành chính, sự nghiệp. Công tác kiểm toán và thanh tra tài chính được tăng cường, đúng kế hoạch, nhất là sử dụng tài chính công; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí đạt hiệu quả.

          Hệ thống tín dụng, ngân hàng hoạt động có tiến bộ, đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn cho các doanh nghiệp, nhân dân và phát triển kinh tế - xã hội. Vốn huy động bình quân tăng trên 32%/năm; dư nợ tăng 30%/năm, trong đó dư nợ trung và dài hạn trên 65%/năm, nợ xấu giảm dưới 2%, lợi nhuận khá; thực hiện tốt chương trình kích cầu của Chính phủ trong việc hỗ trợ lãi suất, bảo lãnh vay vốn, phục vụ sản xuất kinh doanh của các thành phần kinh tế.

          2. Văn hoá- xã hội phát triển, nhiều mặt tiến bộ

          Sự nghiệp giáo dục - đào tạo tiếp tục phát triển, góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài. Có 157 trường đạt chuẩn quốc gia, tăng 75 trường so với năm 2005. Tích cực thực hiện đa dạng hóa các loại hình đào tạo và xã hội hóa giáo dục. Tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn tăng; chất lượng giáo dục được nâng lên. Hàng năm trẻ em vào nhà trẻ đạt trên 55%, học sinh mầm non vào lớp 1 đạt 99%, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp các cấp đạt trên 85%, đỗ đại học và cao đẳng đạt trên 30%, học sinh giỏi đạt giải quốc gia tăng, có học sinh đạt giải quốc tế. Hưng Yên thuộc nhóm 5 tỉnh có tỷ lệ học sinh vào đại học cao nhất toàn quốc. Khuyến học được quan tâm, mặt bằng dân trí và chất lượng nguồn nhân lực được nâng lên. Mạng lưới giáo dục - đào tạo tiếp tục được mở rộng, nâng cấp và thành lập mới 7 trường THPT (có 5 trường tư thục), trên địa bàn có 19 trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề (tăng 6 trường so với cuối năm 2005); Đề án Khu Đại học Phố Hiến đã được Chính phủ phê duyệt, đang tích cực triển khai để sớm đi vào hoạt động.

Công tác nghiên cứu, ứng dụng khoa học-công nghệ đạt nhiều kết quả, đã thực hiện 20 dự án và 30 đề tài khoa học. ứng dụng thành công công nghệ sản xuất một số cây, con giống chất lượng cao, hỗ trợ chuyển giao và ứng dụng kỹ thuật tiến bộ vào sản xuất, chế biến, bảo quản, phát triển cây ăn quả đặc sản có giá trị kinh tế cao. Tăng cường quản lý, kiểm định các phương tiện đo lường, xử lý kịp thời những sai phạm có tác động xấu đến xã hội. Triển khai, ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ yêu cầu lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ đảng, chính quyền có hiệu quả hơn.

          Quản lý và bảo vệ môi trường được tăng cường, xây dựng và đưa vào khai thác 2 khu xử lý chất thải tập trung. Hình thành và hoạt động có hiệu quả nhiều mô hình tổ, đội vệ sinh ở thôn, xóm, hạn chế được tình trạng ô nhiễm môi trường.

Tăng cường công tác quản lý nhà nước về y tế. Thành lập mới và nâng cấp bệnh viện tuyến, bệnh viện chuyên khoa cấp tỉnh; tích cực khai thác và tập trung nguồn vốn lớn đầu tư hạ tầng và hiện đại hóa trang thiết bị y tế, giảm tỷ lệ bệnh nhân phải chuyển tuyến trên; chú trọng chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân, nhất là chương trình tiêm chủng mở rộng cho trẻ em. Chủ động phòng ngừa, ngăn chặn kịp thời, có hiệu quả các dịch bệnh, không để diễn biến phức tạp; quan tâm đào tạo, bồi dưỡng nâng cao tay nghề và y đức của đội ngũ thầy thuốc, nâng cao năng lực khám và chữa bệnh cho nhân dân; 90% xã đạt chuẩn quốc gia về y tế. Quản lý nhà nước về hành nghề y, dược tư nhân được tăng cường; xã hội hoá về y tế được đẩy mạnh, đã có 3 bệnh viện tư nhân và hàng chục cơ sở khám chữa bệnh chất lượng cao được cấp phép hoạt động. Công tác dân số, gia đình và trẻ em được quan tâm, triển khai tích cực mô hình lồng ghép dân số với phát triển gia đình bền vững, giảm tỷ suất sinh 0,15%, duy trì tỷ lệ phát triển dân số ở mức 0,95%, giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em từ 24% năm 2005 xuống 9% năm 2010.

Văn hoá, văn nghệ, thông tin, thể dục thể thao được quan tâm, đáp ứng ngày càng cao nhu cầu hưởng thụ của nhân dân. Bám sát các nhiệm vụ chính trị để tập trung tuyên truyền, nhất là cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” và “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” từng bước đi vào chiều sâu. Đến hết năm 2009 có 72% làng, khu phố được công nhận làng, khu phố văn hoá (mục tiêu Đại hội 70%). Quản lý, tôn tạo các di tích lịch sử văn hóa và cách mạng được chú trọng, nhiều di tích được trùng tu tôn tạo. Công tác phát thanh, truyền hình, báo chí, xuất bản, thông tin tăng về số lượng, chất lượng từng bước được nâng lên, thực hiện tốt nhiệm vụ tuyên truyền, giáo dục, định hướng dư luận, cổ vũ các phong trào thi đua yêu nước, các gương người tốt, việc tốt; đấu tranh với những việc làm sai trái, góp phần xây dựng nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Phong trào thể dục, thể thao được duy trì và phát triển; thể thao thành tích cao giành được nhiều huy chương ở các giải quốc gia và quốc tế; giáo dục thể chất trong trường học được tăng cường, xã hội hóa thể dục thể thao ngày càng phát triển mạnh.

           Gắn phát triển kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Số hộ nghèo từ 13% năm 2006 giảm còn 3% năm 2010 (mục tiêu Đại hội 3%). Thực hiện tốt chính sách với các gia đình liệt sỹ, thương binh, bệnh binh, người có công với nước. Hoạt động đền ơn đáp nghĩa được quan tâm, nhân dân tích cực hưởng ứng xây dựng quỹ “Đền ơn đáp nghĩa”, “Nạn nhân chất độc màu da cam”, “Vì trẻ em”, “Vì người nghèo”, góp phần ổn định đời sống các đối tượng chính sách- xã hội. Công tác dạy nghề và xã hội hoá dạy nghề được quan tâm. Đa dạng hơn các hình thức, loại hình đào tạo; mở rộng mạng lưới các trường, trung tâm dạy nghề, nhiều cơ sở dạy nghề hoạt động có hiệu quả. Đã dạy nghề cho 11,4 nghìn người; tỷ lệ lao động qua đào tạo 40% (đạt mục tiêu Đại hội). Tạo việc làm thường xuyên cho hơn 11 vạn lao động (mục tiêu Đại hội 10 vạn lao động) và hàng chục vạn lao động có thêm việc làm thời vụ; chuyển đổi được nhiều lao động nông nghiệp sang sản xuất công nghiệp, dịch vụ. Năm 2010 cơ cấu lao động: Nông nghiệp 53,5% - Công nghiệp, xây dựng 25,5% - Dịch vụ 21%. Các hoạt động tôn giáo thực hiện đúng tôn chỉ, mục đích, quyền tự do tín ngưỡng của công dân được bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật.

          3. Quốc phòng, an ninh tiếp tục được củng cố, tăng cường

          Quốc phòng và an ninh được tăng cường, xây dựng lực lượng chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; làm tốt vai trò tham mưu, góp phần chủ động phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn và xử lý có hiệu quả các loại tội phạm, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an ninh, trật tự an toàn xã hội. Nắm bắt, tập trung giải quyết các vụ việc phức tạp, nhất là ở địa bàn nông thôn và khu công nghiệp; kiềm chế tai nạn giao thông, tệ nạn xã hội; an ninh chính trị- kinh tế - văn hóa- tư tưởng được đảm bảo. Phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc được duy trì.

          Thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân được tăng cường. Chất lượng huấn luyện dân quân tự vệ, dự bị động viên và công tác bồi dưỡng kiến thức quốc phòng cho cán bộ chủ chốt được nâng cao. Trực sẵn sàng chiến đấu được thực hiện thường xuyên, nghiêm túc. Khu vực phòng thủ tỉnh và các huyện, thành phố được chăm lo xây dựng toàn diện, vững chắc. Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tuyển quân hàng năm. Tham gia tích cực, có hiệu quả các chương trình phát triển kinh tế- xã hội, phòng chống thiên tai.

          4. Hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền được nâng lên, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân được phát huy, dân chủ được mở rộng 

          Hoạt động của Hội đồng nhân dân các cấp có nhiều đổi mới, chất lượng được nâng lên, dân chủ trong các kỳ họp được phát huy. Đại biểu tham gia đóng góp nhiều ý kiến vào những vấn đề Hội đồng nhân dân quyết định; thực hiện chức năng chất vấn và trả lời chất vấn ngày một tốt hơn, quyết định được nhiều vấn đề quan trọng ở địa phương. Các hoạt động giám sát được tăng cường, tập trung vào những vấn đề bức xúc, trọng tâm; thực hiện tốt công tác dân nguyện.

          Quản lý, chỉ đạo, điều hành của Uỷ ban nhân dân các cấp có nhiều tiến bộ, tăng cường quản lý nhà nước theo pháp luật, tập trung nhiều hơn vào giải quyết những vấn đề khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn để thúc đẩy phát triển kinh tế- xã hội, nâng cao hiệu lực và hiệu quả điều hành. Thể chế hoá và thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước, chỉ thị, nghị quyết của Tỉnh uỷ, Hội đồng nhân dân tỉnh. Đẩy mạnh cải cách hành chính, thực hiện quy chế dân chủ và giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân theo quy định.

          Thường xuyên đẩy mạnh phổ biến, tuyên truyền, giáo dục ý thức chấp hành pháp luật trong cán bộ, nhân dân. Thực hiện cải cách tư pháp, tạo điều kiện để các ngành trong khối tư pháp hoạt động theo đúng quy định của pháp luật; nâng cao chất lượng hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân; các hành vi vi phạm pháp luật được xử lý, ngăn chặn.

          Công tác phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí được quan tâm chỉ đạo tích cực, đạt được một số kết quả. Một số vụ án kinh tế được đưa ra xét xử; tình trạng lãng phí, tham nhũng được kiềm chế.

          Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội nghề nghiệp phát huy tốt hơn vai trò tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền; tập hợp xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân; củng cố, mở rộng tổ chức, phát triển đoàn viên, hội viên; tổ chức nhiều phong trào thi đua yêu nước, nhiều cuộc vận động có hiệu quả thiết thực, góp phần phát triển kinh tế- xã hội, giảm nghèo.

          Dân chủ xã hội được mở rộng, tạo điều kiện để nhân dân giám sát các hoạt động của tổ chức Đảng, chính quyền, các cơ quan nhà nước, cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang; tham gia giám sát cộng đồng tại địa bàn dân cư. Các cấp uỷ đảng, chính quyền đã chú ý lắng nghe, đối thoại, tiếp thu và giải quyết những kiến nghị chính đáng của nhân dân. Dân chủ trong Đảng, trong các tổ chức và xã hội được nâng cao; quyền làm chủ của nhân dân được tôn trọng và phát huy tốt hơn.

          5. Công tác xây dựng Đảng được chú trọng; cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đạt kết quả bước đầu

          Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng đối với cán bộ, đảng viên có nhiều đổi mới; nhận thức về chủ nghĩa Mác- Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, về công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở địa phương được nâng lên, tạo sự thống nhất tư tưởng trong Đảng bộ và sự đồng thuận trong nhân dân. Coi trọng nhiệm vụ xây dựng đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên. Tập trung chỉ đạo với nhiều hình thức phong phú tổ chức thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, tạo sức lan toả trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, khơi dậy phong trào thi đua sâu rộng trong xã hội. Việc nghiên cứu, quán triệt Nghị quyết Đại hội X, các Nghị quyết và kết luận của Trung ương, của Tỉnh ủy được các cấp ủy tiến hành nghiêm túc, kịp thời, gắn với xây dựng chương trình hành động sát thực, khả thi, đưa Nghị quyết vào cuộc sống. Công tác đào tạo, bồi dưỡng, phổ cập lý luận chính trị cho đảng viên được các cấp uỷ triển khai có hiệu quả.

          Các hoạt động tuyên truyền được duy trì, có chất lượng khá. Đội ngũ báo cáo viên được kiện toàn và hoạt động tích cực. Tài liệu tuyên truyền, thông tin được phát hành thường xuyên, tăng lượng thông tin và số lượng phát hành. Công tác giáo dục truyền thống được quan tâm, đa dạng hoá bằng nhiều hình thức phong phú, có tác dụng giáo dục tốt. Việc biên soạn, xuất bản, phát hành lịch sử Đảng bộ địa phương, lịch sử ngành được các cấp ủy quan tâm và đưa vào giảng dạy lịch sử địa phương trong các trường THPT, Trường Chính trị Nguyễn Văn Linh và Trung tâm bồi dưỡng chính trị các huyện, thành phố, góp phần giáo dục truyền thống trong toàn Đảng bộ và nhân dân.

          Cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng được đẩy mạnh. Công tác tự phê bình và phê bình được thực hiện thường xuyên thông qua các kỳ sinh hoạt Đảng. Việc quản lý, nhận xét, đánh giá cán bộ, đảng viên, lấy ý kiến nhận xét của tổ chức Đảng và góp ý của nhân dân nơi cư trú được duy trì nề nếp; công tác tiếp nhận và giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo cơ bản được kịp thời.

          Tập trung củng cố, phát triển và xây dựng tổ chức cơ sở đảng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên bằng những chủ trương và giải pháp thiết thực. Sớm thực hiện chương trình xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch vững mạnh, giải quyết cơ sở đảng yếu kém; nâng cao chất lượng đảng viên, chất lượng sinh hoạt, nhất là sinh hoạt chi bộ theo chuyên đề; thành lập Đảng bộ khối doanh nghiệp trực thuộc Tỉnh uỷ; tiếp nhận sinh viên đại học chính quy về công tác tại cấp xã. Thực hiện có hiệu quả chủ trương thí điểm Bí thư Đảng uỷ đồng thời là Chủ tịch Uỷ ban nhân dân ở 10 xã và Đại hội cơ sở đảng trực tiếp bầu Ban Thường vụ, Bí thư, Phó Bí thư Đảng uỷ ở 24 cơ sở (trong đó có 10 xã, phường). Công tác đánh giá, phân loại, khen thưởng tổ chức cơ sở đảng, đảng viên và cơ quan, cán bộ làm công tác xây dựng Đảng đảm bảo dân chủ, công khai và thiết thực hơn. Bình quân hàng năm, số tổ chức cơ sở đảng đạt TSVM là 81,42% (chỉ tiêu Đại hội 80%), số yếu kém giảm còn 0,6%; đảng viên đủ tư cách hoàn thành tốt nhiệm vụ đạt trên 71% (hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đạt 12,4%), số vi phạm tư cách giảm còn 0,47%. Phát triển đảng viên mới bảo đảm về chất lượng, tăng tỷ lệ là đoàn viên thanh niên, công nhân, trí thức; trung bình hàng năm kết nạp trên 1.500 đảng viên.

          Công tác cán bộ được tiến hành đồng bộ các nội dung, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ từ tỉnh đến cơ sở có bước trưởng thành về mọi mặt, cơ bản đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Việc đánh giá cán bộ được tiến hành hàng năm và cuối nhiệm kỳ. Quy hoạch cấp uỷ và cán bộ lãnh đạo được chú trọng hơn.

 Đào tạo bồi dưỡng lý luận chính trị, nghiệp vụ chuyên môn cho cán bộ, đảng viên được quan tâm. 5 năm qua, đã cử 300 cán bộ các cấp đi học đại học và cao cấp lý luận chính trị; mở 35 lớp với 3.575 học viên trung cấp lý luận chính trị; bồi dưỡng lý luận chính trị và nghiệp vụ công tác Đảng, chính quyền, đoàn thể cho 90.000 lượt cán bộ cơ sở.

          Công tác đề bạt, bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo, quản lý thực hiện đúng quy định. Coi trọng xem xét tiêu chuẩn cán bộ trước khi đề bạt. Trong nhiệm kỳ qua đã bầu bổ sung, kiện toàn 2 Bí thư, 1 Phó Bí thư Tỉnh uỷ, 2 Chủ tịch UBND tỉnh và Chủ tịch HĐND tỉnh, 3 Uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, 2 Phó Chủ tịch UBND tỉnh, 3 Tỉnh uỷ viên và 2 Uỷ viên Uỷ ban Kiểm tra Tỉnh uỷ. Đề bạt, bổ nhiệm trên 150 cán bộ lãnh đạo cấp sở ở 48 sở, ban, ngành, huyện, thành phố, đảng uỷ trực thuộc Tỉnh uỷ; điều động, luân chuyển trên 20 cán bộ diện Tỉnh uỷ quản lý. Thực hiện tốt chính sách và tạo sự đồng thuận trong cán bộ, đảng viên.

          Kiểm tra, giám sát của Đảng được coi trọng, chất lượng, hiệu quả được nâng lên. Nhiều cấp ủy quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và chủ động xây dựng chương trình, kế hoạch thực hiện. ủy ban Kiểm tra các cấp được kiện toàn về tổ chức, tăng cường và quan tâm về chế độ chính sách, nâng cao chất lượng hoạt động. Trong nhiệm kỳ, các cấp ủy kiểm tra 4.925 lượt tổ chức Đảng và 5.290 lượt đảng viên; giám sát 708 lượt tổ chức đảng và 11.096 lượt đảng viên. ủy ban Kiểm tra các cấp kiểm tra 662 tổ chức đảng và 2.341 đảng viên có dấu hiệu vi phạm (trong đó 1.241 đảng viên là cấp uỷ viên các cấp); giám sát 848 tổ chức đảng và 1.880 đảng viên. Giải quyết đơn tố cáo 15 tổ chức đảng và 848 đảng viên. Xử lý kỷ luật 35 tổ chức đảng và 919 đảng viên vi phạm, trong đó có 337 cấp ủy viên; khai trừ 109, xử lý bằng pháp luật 85 đảng viên. Công tác kiểm tra và thi hành kỷ luật của Đảng đã góp phần tích cực giáo dục cán bộ, đảng viên, ngăn ngừa vi phạm, chống quan liêu, tham nhũng, tiêu cực, giữ gìn sự trong sạch của Đảng, củng cố lòng tin trong Đảng bộ và nhân dân.

          Nhận thức, trách nhiệm và thực hiện công tác dân vận của hệ thống chính trị được nâng lên, có nhiều chuyển biến, cụ thể hoá các nghị quyết, chủ trương của Đảng sát hợp với lòng dân. Hệ thống dân vận các cấp thực hiện tốt chức năng tham mưu, hướng dẫn, bồi dưỡng kỹ năng, nghiệp vụ, tăng cường giám sát, kiểm tra; tổ chức bộ máy cán bộ dân vận được kiện toàn, bổ sung và nâng cao năng lực; đã có 100% Bí thư đảng uỷ cấp xã kiêm trưởng Khối dân vận cơ sở; phong trào thi đua “Dân vận khéo” được triển khai và đạt nhiều kết quả.

          Phương thức lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng tiếp tục được đổi mới, phát huy tốt hơn tính chủ động, sáng tạo và đảm bảo hoạt động theo quy định pháp luật của các tổ chức trong hệ thống chính trị; dân chủ trong Đảng được phát huy và mở rộng. Phong cách, lề lối làm việc của các cơ quan Đảng từ tỉnh đến cơ sở tiếp tục được đổi mới theo hướng sâu sát cơ sở, gần gũi nhân dân; tăng cường đôn đốc, kiểm tra thực hiện có hiệu quả các nghị quyết của Đảng.

          B. Những hạn chế, khuyết điểm

          1. Về kinh tế: Kinh tế tăng trưởng nhanh nhưng thiếu đồng bộ, chưa vững chắc; sản xuất nông nghiệp quy mô còn nhỏ, chuyển dịch chưa mạnh, tiêu thụ sản phẩm khó khăn. Số lượng dự án đầu tư vào địa bàn nhiều nhưng đa số quy mô nhỏ, còn nhiều dự án chưa thực hiện đầu tư nhưng xử lý chậm. Lĩnh vực thương mại, du lịch và dịch vụ phát triển chưa tương xứng với lợi thế; hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội thiếu đồng bộ; công tác quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế- xã hội, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, giao thông, thuỷ lợi, xây dựng nông thôn mới còn nhiều hạn chế, chắp vá, chưa có chiến lược dài hạn. Các chỉ tiêu tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) và giá trị sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ không đạt mục tiêu Đại hội XVI đề ra.

          2. Về văn hóa- xã hội: Chất lượng giáo dục- đào tạo vẫn còn những hạn chế, chưa đáp ứng kịp yêu cầu của sự phát triển. Đào tạo nghề chưa tạo sự gắn kết có hiệu quả giữa nghiên cứu khoa học công nghệ với đào tạo và sản xuất kinh doanh; chất lượng công tác bảo vệ chăm sóc sức khoẻ, khám chữa bệnh chưa đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của nhân dân; tình trạng gây phiền hà cho người bệnh, thiếu bác sỹ và chuyên gia đầu ngành y tế chưa được khắc phục; quản lý nhà nước về lĩnh vực hành nghề y dược tư nhân còn lỏng lẻo; tình trạng mất cân đối giới tính còn bất cập. Tiến độ xây dựng cơ sở hạ tầng văn hoá, nhất là thiết chế văn hoá thể dục thể thao cấp tỉnh còn chậm; chất lượng làng văn hoá, gia đình văn hoá nhiều nơi giảm sút; thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội chuyển biến chậm. Tình trạng rác thải, nước thải gây ô nhiễm môi trường, nhất là ở các khu công nghiệp, làng nghề, đô thị và khu vực nông thôn còn bức xúc, biện pháp xử lý chưa kiên quyết. Một số vấn đề xã hội như tệ nạn cờ bạc, nghiện hút, tai nạn giao thông còn diễn biến phức tạp, biện pháp ngăn chặn thiếu đồng bộ, kiên quyết.

          3. Về quốc phòng, an ninh: Nhận thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên về nhiệm vụ an ninh quốc phòng chưa sâu sắc, đầy đủ. Một số nơi giải quyết thắc mắc, kiến nghị của nhân dân còn chậm, còn biểu hiện đùn đẩy né tránh, dẫn đến khiếu kiện đông người, vượt cấp, có trường hợp kéo dài; sự kết hợp các lực lượng, các ngành, đoàn thể trong giải quyết một số vụ việc chưa đồng bộ, còn thiếu tinh thần trách nhiệm.

          4. Về xây dựng chính quyền, đoàn thể: Tổ chức và hoạt động của bộ máy chính quyền còn có mặt hạn chế, kém hiệu lực; cải cách hành chính nhiều nơi chậm, ít kiểm tra giám sát; tính sáng tạo, chủ động và khả năng vận dụng chỉ thị, nghị quyết của cấp trên vào địa phương, đơn vị còn hạn chế; tính quyết đoán và tự chịu trách nhiệm của một bộ phận cán bộ chưa cao. Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể hoạt động có mặt còn thụ động, hình thức; xây dựng và tổ chức hoạt động của đoàn thể ở các doanh nghiệp còn yếu; vai trò và hoạt động của tổ chức Đoàn thanh niên ở nông thôn còn mờ nhạt. Việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở nhiều nơi còn hình thức, kém hiệu quả.

          5. Cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng còn bộc lộ nhiều mặt hạn chế; nội dung sinh hoạt chi bộ, công tác giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống ở một số nơi chưa được quan tâm đúng mức. Tự phê bình và phê bình ở một số tổ chức cơ sở đảng còn hình thức, nể nang, ít tác dụng. Một bộ phận cán bộ, đảng viên tính chiến đấu thấp; một số cán bộ suy thoái đạo đức, phai nhạt lý tưởng, tham nhũng, tiêu cực, lời nói không đi đôi với việc làm nhưng chưa được phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm khắc, làm tăng bức xúc trong nhân dân và giảm lòng tin với Đảng; công tác luân chuyển cán bộ yếu. Nhận thức về công tác kiểm tra, giám sát của một số cấp uỷ chưa được coi trọng đúng mức, có cơ sở đảng còn né tránh, đùn đẩy chưa tập trung lãnh đạo giải quyết từ lúc mới xuất hiện, để nảy sinh phức tạp tại cơ sở. Xây dựng tổ chức đảng và phát triển đảng viên ở các doanh nghiệp kết quả thấp; đảng viên ở nông thôn, cơ sở đường phố tuổi đời cao, đảng viên trẻ tỷ lệ thấp, làm hạn chế công tác Đảng ở cơ sở. Việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh ở một số tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị và một bộ phận cán bộ, đảng viên chuyển biến còn chậm.

          C. Nguyên nhân

          1. Nguyên nhân của thành tựu và tiến bộ:

          - Nguyên nhân khách quan: Công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đã giành được nhiều thành tựu to lớn, tạo cho đất nước có vị thế trên trường quốc tế và khu vực, có môi trường đầu tư phát triển thuận lợi, tác động tích cực đến sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh. Hưng Yên có lợi thế nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, giáp Hà Nội và các thành phố lớn, giao thông thuận tiện, đất đai màu mỡ, có lực lượng lao động trẻ dồi dào.

          - Nguyên nhân chủ quan: Có sự đoàn kết thống nhất, quyết tâm cao của Đảng bộ và nhân dân trong tỉnh; sự lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của các cấp ủy Đảng; sự quản lý, điều hành có hiệu quả của các cấp chính quyền; sự năng động, sáng tạo của các đoàn thể và thành phần kinh tế trong cơ chế thị trường; tinh thần hăng hái, tích cực lao động sản xuất, công tác của các tầng lớp nhân dân; dân chủ trong Đảng và xã hội được chú trọng. Các nguồn lực phát triển được tập trung khai thác; các chủ trương chính sách của Trung ương và địa phương sớm được thể chế đi vào cuộc sống và phát huy hiệu quả.

          Có giải pháp đồng bộ, phù hợp với phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ gắn với giải quyết việc làm cho người lao động; phát triển kinh tế đi đôi với tiến bộ xã hội, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Quan tâm đến đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, nhất là những hộ nghèo, hộ chính sách.

          2. Nguyên nhân của hạn chế, khuyết điểm:

          - Nguyên nhân khách quan: Do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính kinh tế toàn cầu, thời tiết bất thường, dịch bệnh tiềm ẩn; hạ tầng kỹ thuật phục vụ phát triển công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ chưa đáp ứng yêu cầu, chưa đồng bộ; tỷ lệ lao động tay nghề cao  hoặc qua đào tạo còn thấp.

          - Nguyên nhân chủ quan: Nhận thức, năng lực lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện của một bộ phận trong hệ thống chính trị chưa cao. Công tác quản lý nhà nước về quy hoạch, kế hoạch, xây dựng cơ bản, quản lý đất đai, cải cách hành chính, phòng chống tai, tệ nạn xã hội chưa được quan tâm đúng mức; kiểm tra, thanh tra, giám sát, hiệu quả chưa cao, xử lý vi phạm chưa kiên quyết, kỷ cương chưa nghiêm. Một số cán bộ còn kém về phẩm chất, yếu về năng lực chuyên môn, gây phiền hà, giải quyết công việc chậm. Sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân chưa được phát huy đúng mức, chưa khai thác và huy động cao nguồn lực trong nhân dân để phát triển kinh tế-xã hội.

          D. Bài học kinh nghiệm

          Một là, quán triệt và tổ chức triển khai thực hiện nghiêm túc các chủ trương, đường lối, quan điểm và nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước; tập trung trí tuệ, vận dụng sáng tạo, phù hợp, đề ra được những chủ trương, giải pháp đúng, đồng bộ, sát thực tiễn, hợp lòng dân. Lãnh đạo, chỉ đạo nhạy bén, sáng tạo và kiên quyết; tạo sự đồng thuận cao, phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị, của toàn xã hội và thế mạnh của từng địa phương.

          Hai là, thường xuyên quan tâm chăm lo củng cố, xây dựng Đảng cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Thực sự phát huy dân chủ, giữ vững nguyên tắc, kỷ luật, kỷ cương, đoàn kết thống nhất, gắn bó mật thiết với nhân dân; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên vững về chính trị, tư tưởng, trong sáng về đạo đức, lối sống, có sức chiến đấu cao, thành thạo chuyên môn nghiệp vụ; coi trọng công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và các quyết định của tỉnh; phát huy hiệu lực, hiệu quả hoạt động chỉ đạo, điều hành của chính quyền các cấp; tính chủ động, tích cực, sáng tạo của Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể nhân dân.

Ba là, coi trọng chất lượng, hiệu quả tăng trưởng và phát triển bền vững; kết hợp chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. Nâng cao chất lượng và hiệu quả của nền kinh tế, duy trì tốc độ tăng trưởng hợp lý; tăng cường huy động các nguồn lực, sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả để đẩy nhanh phát triển kinh tế. Chú trọng thẩm định, chọn lọc các dự án đầu tư có năng lực, hàm lượng công nghệ cao, hiệu quả kinh tế lớn, thân thiện với môi trường. Đảm bảo an sinh xã hội, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, nhất là đối với người có công với cách mạng, người nghèo, hộ khó khăn; gắn phát triển kinh tế với phát triển văn hoá, củng cố quốc phòng, an ninh.

II. Mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp phát triển 5 năm (2011 - 2015)

          1. Dự báo tình hình

Tình hình thế giới, khu vực và trong nước có những diễn biến nhanh, phức tạp và khó lường, các thế lực thù địch tiếp tục chống phá Đảng và Nhà nước ta. Nhưng xu thế hội nhập, hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là chủ đạo, có tác động sâu sắc đến chính trị, kinh tế nước ta. Thành tựu của 25 năm đổi mới, nhất là của 10 năm thực hiện chiến lược phát triển kinh tế- xã hội đã tạo cho thế và lực của nước ta lớn mạnh hơn nhiều, hòa bình và ổn định chính trị được giữ vững.

          Sau gần 14 năm tái lập, kinh tế- xã hội Hưng Yên phát triển nhanh, khá toàn diện và đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Đảng bộ và nhân dân phấn khởi, đoàn kết, tin tưởng; các lợi thế đang được khai thác, các nguồn lực được tăng cường phát huy hiệu quả. Tuy nhiên, những khó khăn, thách thức cả khách quan và chủ quan, những yếu kém, khuyết điểm nhiệm kỳ qua, đòi hỏi Đảng bộ phải có quyết tâm cao, tiếp tục đổi mới tư duy, tập trung lãnh đạo, đưa Hưng Yên phát triển nhanh, bền vững và ngày càng giàu mạnh hơn.

          2. Mục tiêu tổng quát

          Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, toàn diện và đồng bộ, nhất là công tác quy hoạch, đào tạo cán bộ; nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ; xây dựng hệ thống chính trị các cấp trong sạch, vững mạnh; phát huy sức mạnh toàn dân; khai thác lợi thế, huy động nguồn lực, chủ động hội nhập, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng đồng bộ hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội, tăng trưởng kinh tế cao, chất lượng và bền vững; xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, mang nét đặc trưng của địa phương. Củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh, đảm bảo trật tự an toàn xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng vững chắc để Hưng Yên cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp trước năm 2020.

          3. Chỉ tiêu chủ yếu

          - Tăng trưởng bình quân năm: GDP tăng 12,5%; giá trị sản xuất nông nghiệp tăng 4%- công nghiệp tăng 19%- dịch vụ tăng 16%; kim ngạch xuất khẩu tăng 17% (đạt 1 tỷ USD vào năm 2015);

          - Đến năm 2015: Cơ cấu kinh tế: nông nghiệp 17,05%-công nghiệp, xây dựng 50%-dịch vụ 32,95%; thu nhập bình quân đầu người (GDP) đạt 43,6 triệu đồng (tương đương 2.500 USD); tổng thu ngân sách trên địa bàn đạt 6.000 tỷ đồng (trong đó thu nội địa đạt trên 5.000 tỷ đồng); tỷ lệ phát triển dân số giữ mức 1%; 97% hộ đô thị và 87% hộ nông thôn được dùng nước sạch; tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn giai đoạn 2005-2010 còn 1%; tạo thêm việc làm mới 11 vạn lao động (2,2 vạn /năm); 55% lao động trong độ tuổi được đào tạo nghề; 80% làng, khu phố văn hóa; 85% cơ quan, đơn vị và số hộ đạt gia đình văn hóa; giữ vững kết quả phổ cập tiểu học và trung học cơ sở; 30% trường mầm non, 80% trường tiểu học, 55% trường trung học cơ sở và 30% trường trung học phổ thông đạt chuẩn quốc gia; 100% số xã đạt chuẩn quốc gia về y tế; cơ bản chuẩn hoá đội ngũ cán bộ chuyên trách và công chức cấp xã; cơ bản hoàn thành các thiết chế văn hóa, thể thao cấp tỉnh và ở các địa phương; thành phố Hưng Yên cơ bản đạt các tiêu chí của đô thị loại II; xây dựng Phố Nối thành thị xã công nghiệp - dịch vụ và khu vực Bô Thời thành đô thị loại IV.

          - Hàng năm tổ chức cơ sở đảng đạt TSVM 80%; chính quyền cấp xã vững mạnh 80%; đoàn thể đạt vững mạnh 85%.

III. Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa- hiện đại hoá, phát triển nhanh và bền vững gắn với tập trung xây dựng đồng bộ kết cấu hạ tầng, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế

          1. Phát triển nông nghiệp toàn diện theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với xây dựng nông thôn mới

          Tiếp tục tạo đà để đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, hiệu quả và bền vững; bố trí lại cơ cấu cây trồng, vật nuôi; phát triển kinh tế hộ, trang trại, tổ hợp tác, hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp. Hình thành các khu nông nghiệp công nghệ cao, vùng chuyên canh, thâm canh, sản xuất hàng hoá chất lượng, an toàn; gắn sản xuất với chế biến và thị trường, mở rộng xuất khẩu; có chính sách khuyến khích tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, xây dựng thương hiệu sản phẩm. Mở rộng diện tích, áp dụng công nghệ cao để tăng năng suất, chất lượng các loại rau màu, cây ăn quả, cây công nghiệp có lợi thế. Đẩy mạnh sản xuất vụ đông đạt 32 % diện tích. Phát triển nhanh ngành chăn nuôi theo hướng công nghiệp, bán công nghiệp với công nghệ tiên tiến. Phát triển các tổ chức khuyến nông, dịch vụ nông nghiệp; có cơ chế thực hiện tốt việc gắn kết chặt chẽ “4 nhà” (nhà nông, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp, Nhà nước) và phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ ở khu vực nông thôn.

          Phát triển mạnh nuôi trồng thuỷ sản đa dạng theo quy hoạch, phù hợp với lợi thế của từng vùng gắn với thị trường; nâng cao chất lượng thực hiện các dự án “nạc hoá đàn lợn”, “sind hoá đàn bò” và nuôi cá rô phi đơn tính xuất khẩu; coi trọng hình thức nuôi công nghiệp, thâm canh đối với cá nước ngọt.

          Tăng cường quản lý và sử dụng đất đai, đảm bảo tiết kiệm, hiệu quả cao trên cơ sở phát triển kinh tế theo chiều sâu; quy hoạch diện tích gieo cấy lúa phù hợp để đảm bảo an ninh lương thực. Rà soát thu hồi lại đất đối với các dự án đã quá thời hạn quy định, không thực hiện đầu tư và không còn khả năng đầu tư, nâng cao hiệu quả sử dụng đất đai.

          Chú trọng và nâng cao chất lượng công tác quy hoạch chiến lược phát triển tổng thể kinh tế- xã hội; Quy hoạch ngành, lĩnh vực gắn kết với quy hoạch vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ để phát huy tiềm năng, thế mạnh của từng vùng với tầm nhìn dài hạn. Hoàn thiện quy hoạch phát triển kinh tế vùng bãi, vùng nguyên liệu, vùng sản xuất giống lúa chất lượng cao gắn với các chính sách hỗ trợ, khuyến khích thu hút các dự án công nghiệp chế biến nông sản thực phẩm có thế mạnh của tỉnh.

          Phấn đấu giá trị nông nghiệp, thuỷ sản bình quân 5 năm tăng 4%; tỷ trọng cơ cấu trong nông nghiệp đến 2015: cây lương thực 20%- cây công nghiệp, rau quả 35%- chăn nuôi 45%.

          Tiếp tục cải tạo, nâng cấp và xây dựng mới các công trình thủy lợi, đảm bảo đồng bộ đáp ứng yêu cầu sản xuất nông nghiệp theo hướng khoa học và hiện đại; chú trọng quản lý, phát huy hiệu quả trang trại, nhân rộng mô hình cho thu nhập cao.

          Xây dựng nông thôn mới theo hướng văn minh, giầu đẹp, kinh tế phát triển, kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội đồng bộ, hiện đại; giữ gìn, phát huy các giá trị văn hoá truyền thống và các ngành nghề truyền thống ở từng địa phương. Đến 2015 có 25% xã đạt tiêu chí nông thôn mới; xây dựng và sử dụng có hiệu quả trung tâm văn hoá, thể thao ở tất cả các xã trong tỉnh.

          2. Phát triển nhanh công nghiệp theo hướng hiện đại, thích ứng và hội nhập nhanh với nền kinh tế quốc tế

          Tập trung phát triển công nghiệp theo hướng ưu tiên mạnh những ngành, sản phẩm có nhiều lợi thế, có ý nghĩa chiến lược, hiệu quả và bền vững. Bố trí hợp lý công nghiệp trên các địa bàn; phát huy hiệu quả các khu, cụm công nghiệp hiện có và đẩy mạnh phát triển công nghiệp theo hình thức cụm, nhóm sản phẩm tạo thành các tổ hợp công nghiệp có quy mô phù hợp và hiệu quả cao, sức cạnh tranh lớn.

Tiếp tục rà soát hoàn chỉnh quy hoạch phát triển công nghiệp; bổ sung cơ chế kịp thời, tạo sự hấp dẫn hơn nữa đối với các nhà đầu tư; ưu tiên các dự án lớn, có sản phẩm và sức cạnh tranh cao, có hàm lượng công nghệ tiên tiến và đóng góp nguồn thu nhiều cho ngân sách, sử dụng nguyên liệu và lao động tại chỗ, thân thiện với môi trường.

Phát triển nhanh hệ thống truyền tải điện, đảm bảo phục vụ kịp thời cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá và nhu cầu sinh hoạt của nhân dân; gắn với đảm bảo an toàn và giảm mức tổn thất điện.

Phấn đấu đến năm 2015 tổng số dự án đầu tư trên địa bàn tỉnh có vốn đăng ký 5 tỷ USD.

3. Phát huy lợi thế, phát triển mạnh các loại hình dịch vụ

Tập trung khai thác thế mạnh của các ngành dịch vụ còn nhiều tiềm năng, có giá trị gia tăng cao như: Vận tải, tài chính, ngân hàng, viễn thông, thương mại, du lịch, dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, giáo dục, đào tạo. Khuyến khích nhân dân sử dụng hàng hoá trong nước, mở rộng thị trường, phát triển mạnh thương mại ở tất cả các vùng trong tỉnh; ưu tiên nâng cấp các trung tâm thương mại, chợ đầu mối ở thành phố Hưng Yên, khu vực Phố Nối, các thị trấn và những trọng điểm kinh tế, thương mại sôi động, gắn kết chặt chẽ với thị trường Hà Nội và các thành phố lớn. Thiết lập hệ thống phân phối trên thị trường bán lẻ; đẩy mạnh và khuyến khích xuất khẩu những sản phẩm có lợi thế, sức cạnh tranh cao.

Khuyến khích và tạo cơ chế hấp dẫn để phát triển các loại hình dịch vụ nhà ở công cùng với dịch vụ vui chơi giải trí, văn hoá, thể thao cho người lao động ở các Khu công nghiệp tập trung; ưu tiên phát triển dịch vụ phụ trợ, phục vụ phát triển công nghiệp.

Gắn phát triển dịch vụ du lịch với các tua của Hà Nội và các tỉnh để khai thác du lịch thăm quan các di tích lịch sử văn hoá, như: cụm di tích lịch sử - văn hoá Phố Hiến, Đa Hoà - Dạ Trạch, Tống Trân - Cúc Hoa, Đền Phù ủng, các nhà tưởng niệm danh nhân. Phấn đấu tốc độ tăng trưởng dịch vụ bình quân 5 năm đạt trên 15%/năm.

4. Nâng cao hiệu quả hoạt động tài chính, tín dụng và ngân hàng

Khai thác triệt để các nguồn thu gắn với mở rộng cơ chế nuôi dưỡng nguồn thu, thực hiện cơ chế khoán thu, uỷ nhiệm thu, chống thất thu, thu đúng thu đủ, kịp thời vào ngân sách nhà nước. Đẩy mạnh cải cách hành chính trong thu, chi ngân sách, dành nguồn vốn cho đầu tư phát triển, phấn đấu cân đối được nhiệm vụ thu, chi ngân sách địa phương. Quản lý chặt chẽ chi ngân sách, đảm bảo chi đúng mục đích, tiết kiệm và hiệu quả. Tiếp tục thực hiện khoán chi và ổn định cho các đơn vị sử dụng ngân sách; duy trì chế độ công khai tài chính, thanh tra, kiểm tra, giám sát chặt chẽ chi ngân sách. Tăng cường công tác quản lý giá, nhất là giá các mặt hàng thiết yếu, đấu tranh chống mọi hiện tượng đầu cơ nâng giá. Tạo nền tài chính ổn định, bền vững, lành mạnh, công khai, minh bạch, dân chủ và được kiểm soát chặt chẽ.

Nâng cao hiệu quả hoạt động và kiểm soát chất lượng hoạt động tín dụng, đảm bảo tốc độ tăng nguồn vốn huy động bình quân 27%/năm, dư nợ cho vay tăng 25%/năm. Mở rộng cho vay các thành phần kinh tế trên cơ sở đảm bảo cơ cấu đầu tư, an toàn, hạn chế rủi ro trong hoạt động tín dụng. Có những biện pháp tích cực để thu hồi nợ quá hạn, nợ khó đòi, hạn chế nợ xấu phát sinh. Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về tiền tệ, tín dụng, ngân hàng, giám sát chặt chẽ hoạt động quỹ tín dụng nhân dân; tăng cường thanh tra, kiểm soát nội bộ. Cải tiến mạnh thủ tục hành chính, tạo mối liên hệ chặt chẽ giữa ngân hàng và khách hàng, phục vụ chung cho phát triển kinh tế- xã hội.

          5. Tập trung đầu tư xây dựng, tạo bước đột phá về kết cấu hạ tầng, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội

          Để đạt được mục tiêu tăng trưởng bình quân 12,5% năm, tổng mức vốn huy động cho đầu tư phát triển trong 5 năm cần 125 nghìn tỷ đồng, trong đó nguồn vốn Trung ương đầu tư đạt khoảng 17%, ngân sách địa phương 12%, các thành phần kinh tế khác 71%.

          Tập trung hoàn thiện quy hoạch hệ thống kết cấu hạ tầng trên địa bàn toàn tỉnh; phát triển có trọng tâm, trọng điểm, đầu tư tập trung dứt điểm, hoàn thành những công trình then chốt theo hướng hiện đại và đồng bộ, nhất là ở các vùng động lực phát triển, các khu công nghiệp, đô thị. Hoàn thiện cơ bản mạng lưới giao thông thiết yếu; tiếp tục đầu tư cải tạo, nâng cấp các tuyến đường tỉnh, huyện theo cấp đường đã quy hoạch. Hoàn thành nâng cấp quốc lộ 38, 39B và tỉnh lộ 200 theo tiêu chuẩn đường cấp III đồng bằng. Phối hợp đẩy nhanh tiến độ xây dựng đường cao tốc Hà Nội - Hải Phòng; đường nối 2 tuyến đường cao tốc Hà Nội- Hải Phòng và Cầu Giẽ- Ninh Bình đoạn qua tỉnh Hưng Yên; xây dựng các điểm đấu nối với các trục vành đai Hà Nội và đường giao thông đối ngoại với các tỉnh lân cận; hoàn thiện tuyến đường từ cầu Thanh Trì đi Dân Tiến, Khoái Châu; xây dựng cảng Sông Hồng, trước mắt hoàn thành đầu tư cảng Sông Luộc. Hỗ trợ để cơ bản các tuyến đường xã, thôn và 50% đường ra đồng được trải vật liệu cứng. Thực hiện tốt xã hội hoá xây dựng các bến xe, chợ. Đầu tư đồng bộ các công trình thuỷ lợi theo quy hoạch được duyệt và nâng cấp mặt đê sông Hồng, sông Luộc thuộc địa phận tỉnh; cải tạo, nâng cấp, nạo vét hệ thống thuỷ nông Bắc Hưng Hải và xây dựng các trạm bơm lớn khu vực. Phối hợp với Tập đoàn Điện lực Việt Nam đầu tư cải tạo, xây dựng mới các trạm biến áp và đường dây cấp nguồn theo quy hoạch được duyệt. Ngành Bưu chính, viễn thông tiếp tục đầu tư mở rộng dung lượng, nâng cao chất lượng phục vụ; tập trung hoàn thiện các công trình sử dụng nguồn vốn trái phiếu Chính phủ, bảo đảm đúng tiến độ và chất lượng; xúc tiến xây dựng các công trình văn hoá và khu liên hợp thể thao tỉnh; xây dựng Trung tâm Hội nghị tỉnh; triển khai thực hiện Quy hoạch bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị đô thị cổ Phố Hiến gắn với phát triển du lịch, theo phê duyệt của Thủ tướng Chính phủ. Đẩy nhanh tiến độ xây dựng các khu đô thị, khu du lịch dịch vụ tại các huyện: Văn Giang, Văn Lâm, khu vực Phố Nối và Khu Đại học Phố Hiến. Tăng cường quản lý đô thị và hành lang đường giao thông.

          6. Phát triển mạnh các thành phần kinh tế, các loại hình doanh nghiệp

          Đẩy mạnh đổi mới tổ chức, cơ chế hoạt động của các đơn vị dịch vụ công phù hợp với kinh tế thị trường định hướng XHCN; khuyến khích tạo điều kiện thuận lợi để có nhiều dịch vụ công, nhất là dịch vụ y tế, giáo dục, đào tạo, khoa học và công nghệ.

          Chăm lo phát triển kinh tế tập thể với nhiều hình thức đa dạng, mà nòng cốt là hợp tác xã. Tổng kết tình hình phát triển các hợp tác xã và thực hiện Luật hợp tác xã để có cơ chế, chính sách hỗ trợ phù hợp, tạo điều kiện cho việc ra đời, phát triển các hợp tác xã, các tổ hợp tác kiểu mới và các mô hình kinh tế tập thể khác theo nguyên tắc tự nguyện, cùng có lợi. Đổi mới các hợp tác xã theo hướng thực sự là các đơn vị kinh doanh, có chức năng kinh tế và xã hội; tạo điều kiện phát triển các trang trại ở nông thôn và hình thành hợp tác xã của các chủ trang trại; phát triển bền vững các làng nghề truyền thống.

          Quan tâm tạo điều kiện thuận lợi để phát triển mạnh các loại hình kinh tế tư nhân ở các ngành, lĩnh vực kinh tế theo quy hoạch và quy định của pháp luật. Hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các trang trại, hộ sản xuất kinh doanh, nhất là trong nông nghiệp và khu vực nông thôn, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế thị trường và hội nhập. Khuyến khích phát triển các loại hình doanh nghiệp với hình thức sở hữu hỗn hợp như công ty cổ phần, công ty TNHH một thành viên, công ty hợp danh, hợp tác xã cổ phần.

IV. Phát triển lĩnh vực văn hoá - xã hội, không ngừng nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân, xây dựng Hưng Yên trở thành trung tâm đào tạo nguồn nhân lực của khu vực

          1. Đẩy mạnh phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo và khoa học-công nghệ

          Giáo dục đào tạo đáp ứng yêu cầu chất lượng nguồn nhân lực và các giá trị về năng lực, trí tuệ, phẩm chất đạo đức, thể lực và thẩm mỹ của thế hệ trẻ. Không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, tác phong công nghiệp, ý thức trách nhiệm xã hội. Xây dựng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục đủ về số lượng, đáp ứng yêu cầu về chất lượng. Đề cao trách nhiệm phối hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội trong giáo dục thế hệ trẻ.

          Phát triển giáo dục theo quy hoạch, đảm bảo cân đối về quy mô, loại hình; xây dựng xã hội học tập, giữ vững kết quả giáo dục, duy trì Hưng Yên thuộc nhóm các tỉnh dẫn đầu về giáo dục của cả nước, bảo đảm trên 55% trẻ em trong độ tuổi được vào nhà trẻ, 90% trẻ vào mẫu giáo, 100% trẻ 6 tuổi vào lớp 1, 100% học hết tiểu học vào lớp 6 và duy trì 95% tốt nghiệp trung học cơ sở vào lớp 10 và học nghề, không để học sinh trong độ tuổi phổ cập bỏ học giữa chừng; nâng cao hơn nữa tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THPT vào các trường đại học, cao đẳng và học nghề. 

          Đẩy mạnh công tác khuyến học, khuyến tài và xã hội hoá giáo dục- đào tạo, phát huy hiệu quả của các trung tâm học tập cộng đồng, trung tâm kỹ thuật tổng hợp hướng nghiệp, trung tâm dạy nghề. Giữ vững thành quả phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở. Đặc biệt quan tâm đến chất lượng giáo dục toàn diện, hàng năm có trên 35% học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông vào học đại học, cao đẳng, tăng số học sinh giỏi quốc gia, học sinh giỏi khu vực và quốc tế; đảm bảo 100% phòng học phổ thông, 55% phòng học mầm non kiên cố và cao tầng. Nâng trình độ trên chuẩn cơ bản đội ngũ cán bộ quản lý các trường phổ thông, mầm non và giáo viên cốt cán các trường. 

          Tăng cường quản lý nhà nước về giáo dục- đào tạo, phân cấp tạo chủ động cho các cơ sở giáo dục. Mở rộng quy mô đào tạo; quy hoạch khu đại học Phố Hiến theo hướng hiện đại chuẩn khu vực; phối hợp với các Bộ, ngành Trung ương đẩy nhanh tiến độ để Khu Đại học Phố Hiến sớm đi vào hoạt động; phấn đấu đến 2015 thu hút khoảng 3 - 5 Trường Đại học về đầu tư và hoạt động tại Khu đại học; nâng cấp hệ thống các trường trung học, cao đẳng hiện có, gắn đào tạo với nhu cầu sử dụng lao động.

          Tạo chuyển biến mạnh về chất lượng đào tạo, dạy nghề theo hướng tiếp cận với công nghệ hiện đại, đáp ứng yêu cầu cán bộ quản lý, cán bộ khoa học kỹ thuật có chất lượng cao, am hiểu pháp luật và thông lệ quốc tế. Tăng tỷ lệ lao động qua đào tạo, nhất là công nhân lành nghề. Thực hiện có hiệu quả đề án của Chính phủ về đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020. Nâng tỷ lệ lao động trong độ tuổi qua đào tạo nghề đạt 55% vào năm 2015, trong đó đào tạo nghề phục vụ sản xuất, kinh doanh tại địa bàn trên 35%, tỷ lệ đào tạo dài hạn 15%.

          Chú trọng nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng các tiến bộ khoa học-công nghệ vào sản xuất và đời sống; áp dụng kỹ thuật tiên tiến kết hợp với cung ứng các loại giống cây, con có năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế cao; khuyến khích hoạt động tư vấn dịch vụ khoa học-công nghệ; đổi mới cơ chế quản lý và tăng cường đầu tư từ ngân sách Nhà nước đi đôi với xã hội hoá đầu tư cho khoa học-công nghệ; hỗ trợ các doanh nghiệp triển khai ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học. Tạo điều kiện thuận lợi nhất để phát triển thị trường khoa học-công nghệ, thành lập và phát huy hiệu quả của Liên hiệp các Hội khoa học kỹ thuật tỉnh.

          Triển khai mở rộng chương trình ứng dụng công nghệ thông tin, đáp ứng công tác lãnh đạo của cấp uỷ Đảng, chỉ đạo điều hành của chính quyền các cấp. Nâng cao chất lượng các dự án, đề tài khoa học đáp ứng tốt hơn sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Tăng cường công tác quản lý và bảo vệ môi trường. Nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm của toàn xã hội, trước hết là của cấp uỷ, cán bộ lãnh đạo các cấp về bảo vệ môi trường; xây dựng chế tài đủ mạnh để ngăn ngừa, xử lý nghiêm các hành vi gây ô nhiễm môi trường, khắc phục tình trạng ô nhiễm và cải thiện môi trường. Chú trọng đầu tư, hỗ trợ hoạt động thu gom, tái chế và xử lý chất thải rắn, nhất là chất thải y tế và nước thải công nghiệp, khuyến khích các cơ sở chế biến các chất thải phục vụ cho sản xuất sau tái chế. Tăng đầu tư và có cơ chế ưu đãi để đẩy mạnh xã hội hoá, huy động các nguồn lực bảo vệ môi trường.

          2. Phát triển sự nghiệp y tế- dân số, gia đình và trẻ em

          Tiếp tục hoàn thiện hệ thống y tế từ tỉnh đến cơ sở, đa dạng hoá các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ nhân dân. Đẩy mạnh việc nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ y học và đầu tư thiết bị hiện đại cho bệnh viện tuyến tỉnh và tuyến huyện. Nâng cao chất lượng khám và điều trị của các cơ sở y tế, giảm tỷ lệ bệnh nhân chuyển tuyến trên. Tăng cường hệ thống y tế dự phòng đảm bảo phát hiện và xử lý kịp thời không để xảy ra dịch bệnh lớn, thường xuyên kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm. Mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện, đồng thời bảo đảm quyền lợi, giảm phiền hà cho bệnh nhân. Tạo điều kiện và quản lý tốt hành nghề y, dược tư nhân, khắc phục cơ bản tình trạng thiếu bác sỹ trong các cơ sở y tế công lập. Chú trọng đào tạo bồi dưỡng chuyên môn, tu dưỡng y đức của đội ngũ thày thuốc, kết hợp tốt việc chẩn trị theo y học hiện đại với y học cổ truyền. Phấn đấu 100% trạm xá xã có bác sỹ; có chính sách hỗ trợ xã khó khăn xây dựng chuẩn quốc gia về y tế.

         

Thực hiện tốt chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình, phấn đấu tỷ lệ phát triển dân số ổn định ở mức 1%. Có biện pháp khắc phục tình trạng mất cân đối giới tính, từng bước nâng cao chất lượng dân số; Quan tâm công tác dân số, kế hoạch hoá gia đình với bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ bà mẹ, trẻ em; giảm tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, góp phần nâng cao chất lượng dân số. Bảo đảm các quyền lợi cơ bản của trẻ em, tạo môi trường lành mạnh để trẻ em được phát triển toàn diện về thể chất và trí tuệ.

          3. Phát triển sự nghiệp thông tin, văn hoá và thể dục thể thao

          Tiếp tục phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, là nền tảng tinh thần và động lực phát triển của xã hội. Gắn kết chặt chẽ  giữa mở rộng hợp tác đầu tư kinh tế với văn hoá, để quảng bá, thu hút nguồn lực phát triển nét văn hoá đặc sắc của Phố Hiến- Hưng Yên. Khuyến khích các hoạt động sáng tạo văn hoá, văn học nghệ thuật. Đẩy mạnh cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”, nâng cao chất lượng xây dựng làng, khu phố, cơ quan, đơn vị, gia đình văn hoá. Khai thác các nguồn lực để làm tốt việc trùng tu, giữ gìn, phát huy giá trị các di sản văn hoá vật thể và phi vật thể của địa phương. Cơ bản hoàn thành các công trình văn hoá, thể dục, thể thao cấp tỉnh; quy hoạch, đầu tư xây dựng, nâng cấp các công trình văn hoá, thể dục thể thao cấp huyện, cấp xã phù hợp, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hoá và luyện tập của nhân dân. Tăng cường quản lý Nhà nước về dịch vụ văn hoá, kinh doanh văn hoá phẩm, nhằm phát huy mặt tích cực, ngăn chặn tiêu cực, độc hại.

          Khuyến khích, hỗ trợ các hoạt động sáng tác, biên soạn, biên tập để tăng số lượng và chất lượng sách, báo, tạp chí, tác phẩm nghệ thuật, phát thanh truyền hình, đáp ứng nhiệm vụ tuyên truyền giáo dục và hưởng thụ văn hoá của nhân dân. Phát huy hiệu quả các trung tâm văn hoá ở huyện, xã và nhà văn hoá thôn, làng, khu phố. Tăng cường các hoạt động văn hoá, văn nghệ quần chúng và khai thác có hiệu quả mạng lưới thư viện, tủ sách cơ sở.

          Đẩy mạnh xã hội hoá các hoạt động thể dục, thể thao; nâng cao chất lượng thể thao thành tích cao, tăng số huy chương giải quốc tế, quốc gia. Chú trọng phát hiện, bồi dưỡng tài năng thể thao; khuyến khích các tổ chức, cá nhân tham gia tổ chức và tài trợ các hoạt động thể thao, nhất là các môn thể thao thành tích cao, bóng đá, bóng chuyền, bóng bàn.

          4. Giải quyết các vấn đề xã hội, tạo việc làm cho người lao động

          Duy trì phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”, hàng năm giành một phần ngân sách hỗ trợ các đối tượng chính sách khó khăn. Thực hiện tốt công tác chăm sóc thương binh, gia đình liệt sỹ và người có công với cách mạng. Huy động mọi nguồn lực xã hội cùng với Nhà nước chăm lo tốt hơn đời sống của những đối tượng chính sách, đảm bảo có mức sống cao hơn mức bình quân trên địa bàn dân cư.

          Quan tâm giúp đỡ người già, hỗ trợ người tàn tật, người không nơi nương tựa, nạn nhân chất độc da cam, người nghèo; ngăn ngừa tình trạng trẻ em lang thang, trẻ em bị xâm hại và trẻ em phải lao động nặng nhọc. Giúp đỡ các trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, học sinh nghèo vượt khó.

          Đẩy mạnh chương trình giảm nghèo, làm giàu chính đáng, giảm bớt sự chênh lệch thu nhập giữa các địa bàn, các thành phần trong xã hội. Tạo điều kiện và khuyến khích nhân dân giúp đỡ lẫn nhau cùng phát triển.

          Khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển ngành nghề, chuyển dịch cơ cấu lao động và tạo thêm nhiều việc làm mới. Đến 2015 cơ cấu lao động: Nông nghiệp 43%- Công nghiệp, xây dựng 30%- Dịch vụ 27%. Có giải pháp cụ thể thiết thực trong giải quyết việc làm cho người nông dân dành đất mở rộng đô thị và phát triển công nghiệp, dịch vụ; có phương án ngay khi lập dự án, đề án. Phấn đấu giảm tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị xuống còn 3%, tăng quỹ thời gian sử dụng lao động ở nông thôn lên 85%. Xây dựng chiến lược dài hạn và từng năm công tác quản lý và xuất khẩu lao động. Chăm lo bảo hộ lao động, cải thiện điều kiện làm việc, thi hành Luật lao động đi vào nề nếp, xây dựng quan hệ lao động ổn định, hài hoà, tiến bộ.

V. tăng cường tiềm lực quốc phòng, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội

          Tăng cường sức mạnh quốc phòng, an ninh về tiềm lực và thế trận; xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh vững mạnh, xây dựng thế trận lòng dân vững chắc trong thực hiện chiến lược bảo vệ Tổ quốc. Kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng, an ninh; quốc phòng, an ninh với kinh tế trong từng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội.

          Quan tâm giáo dục kiến thức quốc phòng, nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên, nhân dân và lực lượng vũ trang về yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Coi trọng xây dựng thế trận quốc phòng- an ninh ở cơ sở, giữ vững "Thế trận lòng dân" nhằm đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu "Diễn biến hoà bình" của các thế lực thù địch.

          Giữ vững ổn định chính trị và bảo đảm trật tự an toàn xã hội trong mọi tình huống; chú trọng an ninh nông thôn và các khu công nghiệp; phối kết hợp các lực lượng giải quyết kịp thời các điểm nổi cộm, bức xúc không để lan rộng, phát sinh thành "điểm nóng".

          Chủ động triển khai các biện pháp phòng ngừa, thường xuyên nắm chắc tình hình an ninh ở cơ sở, kiên quyết không để bị động, bất ngờ. Phát huy phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc mà trong đó lực lượng Công an nhân dân làm nòng cốt. Tạo bước chuyển biến tích cực trong lĩnh vực trật tự an toàn xã hội, trật tự an toàn giao thông, trật tự công cộng, phòng chống các tệ nạn xã hội, nhất là tệ nạn ma tuý.

          Thực hiện tốt nhiệm vụ tuyển quân, đủ số lượng, chất lượng ngày càng cao. Xây dựng lực lượng quân đội, công an, dân quân tự vệ, dự bị động viên thực sự vững vàng về chính trị tư tưởng, giỏi về kỹ thuật, chiến thuật và nghiệp vụ, ý thức tổ chức kỷ luật cao, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao; tăng cường sự phối hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa các lực lượng. Quan tâm đào tạo, dạy nghề, giải quyết việc làm cho quân nhân, chiến sỹ công an nghĩa vụ xuất ngũ trở về địa phương.

VI. nâng cao hiệu quả quản lý, điều hành của chính quyền các cấp

Tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân, bảo đảm thực sự là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, quyết định đúng và kịp thời những vấn đề quan trọng và cấp thiết của địa phương. Nâng cao trách nhiệm của đại biểu dân cử, đảm bảo số lượng và chất lượng đại biểu chuyên trách; nâng cao chất lượng kỳ họp, tăng cường hoạt động giám sát và tiếp xúc cử tri, tiếp công dân, thực sự là cơ quan đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân.

          Đổi mới tổ chức và hoạt động của Uỷ ban nhân dân các cấp theo hướng xây dựng nền hành chính thống nhất, thông suốt, trong sạch, vững mạnh, tổ chức tinh gọn, hợp lý; nâng cao năng lực quản lý, chỉ đạo, điều hành, năng động, sáng tạo và năng lực dự báo, ứng phó, giải quyết kịp thời những vấn đề phát sinh; tổ chức thực thi pháp luật và quản lý nhà nước mọi mặt của đời sống xã hội; thực hiện phân cấp hợp lý cho chính quyền các cấp đi đôi với nâng cao chất lượng, gắn quyền hạn với trách nhiệm được giao. Xây dựng chính quyền thực sự của dân, do dân và vì dân.

          Đẩy mạnh cải cách hành chính, nhất là thủ tục hành chính, giảm và bãi bỏ các loại thủ tục hành chính gây phiền hà cho tổ chức và công dân. Phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm và thẩm quyền của mỗi cán bộ, công chức; tăng cường công khai, minh bạch, trách nhiệm trong hoạt động công vụ. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của chính quyền các cấp. Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cả về phẩm chất đạo đức, năng lực lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, từng bước chuẩn hoá đội ngũ cán bộ chính quyền và các tổ chức chính trị xã hội; tăng cường kiểm tra, giám sát và xử lý nghiêm những người vi phạm kỷ luật, mất uy tín với nhân dân; nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở.

          Đẩy mạnh cải cách tư pháp, nâng cao chất lượng công tác điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án; khắc phục oan, sai, án phải cải, sửa, huỷ; nâng cao chất lượng tố tụng, chất lượng thực hành quyền công tố và chất lượng tranh tụng tại toà; nâng cao năng lực của cơ quan thi hành án dân sự; xây dựng các chế định và đẩy mạnh xã hội hoá hoạt động bổ trợ pháp lý.

          Tăng cường các biện pháp và chủ động phòng, chống tham nhũng, lãng phí, thực hành tiết kiệm. Công khai, minh bạch về kinh tế, tài chính, về cơ chế, chính sách, các dự án đầu tư, xây dựng cơ bản, mua sắm từ ngân sách nhà nước, huy động sự đóng góp của nhân dân; quản lý và sử dụng đất đai; tài sản công; tiếp nhận và bổ nhiệm cán bộ. Phát huy vai trò của các cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân, các phương tiện thông tin đại chúng và nhân dân trong việc giám sát cán bộ, công chức, phát hiện, đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí.

VII. Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể

          Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể trong việc tổ chức và vận động nhân dân thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước.

          Xây dựng Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân thực sự vững mạnh, làm nòng cốt trong hoạt động, tập hợp và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, tham gia bầu cử đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp; giám sát hoạt động các cơ quan Nhà nước, đóng góp ý kiến xây dựng chính sách, pháp luật; tham gia xây dựng Đảng, chính quyền thông qua đó thắt chặt hơn nữa mối liên hệ giữa nhân dân với tổ chức Đảng và chính quyền các cấp.

          Tiếp tục đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể, hướng về cơ sở, gắn với cơ sở, bảo đảm thiết thực, hiệu quả, khắc phục bệnh quan liêu, hành chính, phô trương hình thức. Từng đoàn thể cần duy trì tốt các phong trào quần chúng mang sắc thái riêng của mình vừa thiết thực với đoàn viên, hội viên, vừa có tác dụng xây dựng tổ chức vững mạnh và góp phần thực hiện nhiệm vụ chính trị của Đảng bộ. Tích cực vận động đoàn viên, hội viên tham gia các cuộc vận động xã hội rộng rãi như: Đền ơn đáp nghĩa, vì người nghèo, vì trẻ em, giúp đỡ nạn nhân chất độc da cam...

          Có cơ chế thích hợp để Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân làm tốt chức năng giám sát và phản biện xã hội, tôn trọng và bảo vệ quyền lợi chính đáng của đoàn viên, hội viên và của nhân dân, góp phần xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Tiếp tục tham gia các hoạt động để nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở.

VIII. Nâng cao năng lực lãnh đạo toàn diện của Đảng bộ trong tình hình mới

          1. Giữ vững bản lĩnh chính trị, rèn luyện đạo đức lối sống

          Mọi cán bộ, đảng viên đều được học tập và thường xuyên tự học tập, tự rèn luyện, nhằm nâng cao nhận thức về chủ nghĩa Mác - Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nắm vững quan điểm, đường lối chính sách của Đảng trong công cuộc đổi mới hiện nay; thực hiện có hiệu quả cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, nói đi đôi với làm.

          Tiếp tục đổi mới nội dung và phương pháp giảng dạy, học tập lý luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ theo hướng thiết thực, hiệu quả, phù hợp với đối tượng và thực tế. Cải tiến phương pháp tổ chức nghiên cứu, quán triệt Nghị quyết của Đảng, tiến hành các đợt sinh hoạt chính trị, bảo đảm sâu sắc, sát thực, gắn liền với cuộc sống.

          Đẩy mạnh tuyên truyền giáo dục sâu rộng trong Đảng bộ và nhân dân để thống nhất về chính trị tư tưởng, xây dựng niềm tin vững chắc vào sự nghiệp đổi mới. Cùng với nhiệm vụ lãnh đạo phát triển kinh tế, văn hoá-xã hội, các tổ chức Đảng và đảng viên chú trọng xây dựng văn hoá làm việc, văn hoá ứng xử trong Đảng, xây dựng các cơ quan Đảng phải là cơ quan tiêu biểu về văn hoá.

          Thực hiện tốt cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Mỗi cấp uỷ, cán bộ, đảng viên phải thẳng thắn, nghiêm túc tự phê bình và phê bình, đấu tranh chống tham nhũng, quan liêu, cơ hội, bảo thủ, trì trệ, tha hoá về đạo đức lối sống. Nâng cao ý thức cảnh giác cách mạng, kiên quyết chống lại các quan điểm sai trái, cơ hội chính trị, đấu tranh bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, làm thất bại mọi âm mưu "Diễn biến hoà bình" của các thế lực thù địch và ngăn ngừa những “diễn biến tiêu cực” trong chính nội bộ Đảng.

          2. Tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng cơ sở đảng trong sạch vững mạnh, nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên

          Coi trọng xây dựng tổ chức cơ sở đảng thực sự trong sạch, vững mạnh là hạt nhân chính trị ở cơ sở, huy động và quy tụ được sức mạnh tổng hợp của từng địa phương, đơn vị, giải quyết kịp thời các vấn đề nảy sinh tại cơ sở, thực hiện tốt nhất nhiệm vụ chính trị được giao.

          Cấp uỷ cấp trên thường xuyên sâu sát cơ sở, phát hiện những nhân tố mới để tổng kết và nhân rộng, hướng dẫn giúp đỡ những nơi khó khăn, động viên khen thưởng những nơi có thành tích; sớm phát hiện và xử lý kịp thời những nơi còn lúng túng trong lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị, có sai phạm, mất đoàn kết. Chú trọng thành lập tổ chức cơ sở đảng ở doanh nghiệp ngoài nhà nước, làm điểm và sơ kết rút kinh nghiệm việc thành lập đảng bộ bộ phận  trực thuộc Đảng uỷ xã, phường, thị trấn; phát triển đảng viên ở khu vực doanh nghiệp, đường phố và nông thôn.

          Các tổ chức đảng nghiêm túc chấp hành điều lệ, nghị quyết, chỉ thị, các quy định của Đảng và pháp luật của nhà nước. Đổi mới nội dung, nâng cao chất lượng sinh hoạt đảng bộ, đảng uỷ, chi bộ, chi uỷ; tăng cường sinh hoạt theo chuyên đề, nâng cao tính chiến đấu, tinh thần tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt đảng; phân công đảng viên đúng người, đúng việc và tăng cường quản lý đảng viên. Đánh giá tổ chức cơ sở đảng theo hướng coi trọng chất lượng, lấy hiệu quả thực thi nhiệm vụ được giao làm thước đo chủ yếu, phấn đấu có trên 80 % cơ sở đảng TSVM, cơ bản không còn cơ sở đảng yếu kém.

          Chú trọng xây dựng đội ngũ đảng viên trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng và của dân tộc, có phẩm chất đạo đức tốt, có kiến thức, có năng lực thực hiện nhiệm vụ được giao, nêu gương trước quần chúng, phấn đấu số đảng viên đủ tư cách hoàn thành tốt nhiệm vụ hàng năm đạt trên 80%. Làm tốt công tác bồi dưỡng phát triển đảng viên, chú trọng đối tượng là đoàn viên thanh niên, những quần chúng ưu tú là công nhân trong doanh nghiệp, trong thanh niên nông thôn và những người lao động khác, phấn đấu hàng năm kết nạp trên 1.500 đảng viên. Mặt khác, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát đảng viên chấp hành Điều lệ Đảng, nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên. Đẩy mạnh tiếp nhận sinh viên tốt nghiệp đại học chính quy về công tác tại cấp xã, phấn đấu đến 2015 mỗi xã, phường, thị trấn tiếp nhận được 2 đến 3 sinh viên.

          3. Chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ chính trị nội bộ

          Thực hiện đúng nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo công tác tổ chức, cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị, thường xuyên đảm bảo tổ chức bộ máy, thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ; đồng thời phối hợp, hỗ trợ lẫn nhau để phục vụ tốt nhiệm vụ chính trị của địa phương. Chú trọng công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, sử dụng, khen thưởng, kỷ luật và chính sách cán bộ, trong đó công tác quy hoạch và luân chuyển cán bộ được tăng cường, bảo đảm tính liên tục, kế thừa, phát triển và trẻ hoá cán bộ; phấn đấu 5 năm có 350 đồng chí được học cao cấp, cử nhân chính trị- hành chính. Hoàn thiện cơ chế chính sách, phát hiện, tuyển chọn, bồi dưỡng, thu hút, trọng dụng nhân tài nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu hiện tại và tạo nguồn cán bộ có chất lượng cao, tăng cường đội ngũ cán bộ trẻ có năng lực được đào tạo cơ bản cho một số sở, ban, ngành để luân chuyển, chuẩn bị cho nhiệm kỳ sau. Quan tâm đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ xã, phường, thị trấn. Trong bầu cử tôn trọng quyền đề cử, ứng cử, đảm bảo có số dư theo quy định; thực hiện chế độ đề bạt, bổ nhiệm có thời hạn và có nhiều phương án nhân sự để lựa chọn, thay thế thường xuyên, đảm bảo kịp thời chất lượng cán bộ.

          Nêu cao trách nhiệm của cấp uỷ Đảng về quản lý cán bộ và vai trò của người đứng đầu trong công tác cán bộ. Kiên quyết chống biểu hiện cá nhân, độc đoán, chuyên quyền, mất dân chủ, cơ hội, nể nang, né tránh, trì trệ trong công tác cán bộ. Thực hiện công khai trong kiểm tra, đánh giá cán bộ; xây dựng cơ chế giám sát thường xuyên theo kế hoạch, đột xuất và tôn trọng giám sát của nhân dân. Xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên vi phạm và trách nhiệm cá nhân người đứng đầu cơ quan, đơn vị để xảy ra tham nhũng, tiêu cực, cục bộ, bè phái gây mất đoàn kết.

          Chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ lãnh đạo quản lý, cán bộ chuyên môn đầu ngành, trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc, có phẩm chất đạo đức tốt, tích cực học tập, nhanh nhạy với cái mới, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, có ý thức tổ chức kỷ luật cao, gần gũi với nhân dân, có kiến thức và năng lực hoạt động thực tiễn tương xứng với nhiệm vụ được giao. Phấn đấu đến 2015 cán bộ diện Tỉnh uỷ quản lý 100% có  trình độ lý luận chính trị cao cấp trở lên, có trình độ ngoại ngữ, tin học đáp ứng yêu cầu quản lý, lãnh đạo trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.

         4. Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát của Đảng

          Thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, đề cao ý thức tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt Đảng. Mỗi cán bộ, đảng viên nêu cao tinh thần tiền phong gương mẫu, nói và làm theo nghị quyết của Đảng, pháp luật của nhà nước, thực hành tiết kiệm, chống tham nhũng, lãng phí.

          Tăng cường sự lãnh đạo của cấp uỷ đối với công tác kiểm tra, giám sát. Cấp uỷ và Uỷ ban kiểm tra các cấp chủ động xây dựng chương trình, kế hoạch và tổ chức thực hiện các cuộc kiểm tra, giám sát có hiệu quả. Tập trung kiểm tra đảng viên và tổ chức đảng cấp dưới khi có dấu hiệu vi phạm; giải quyết kịp thời, dứt điểm đơn thư khiếu nại, tố cáo tổ chức đảng và đảng viên.

          Thường xuyên kiện toàn tổ chức bộ máy Uỷ ban Kiểm tra các cấp; thực hiện việc luân chuyển, đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ kiểm tra. Đổi mới phương thức hoạt động, phát huy dân chủ, nâng cao chất lượng, hiệu quả trong thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.

          Phối hợp chặt chẽ giữa công tác kiểm tra, giám sát của Đảng với hoạt động của các cơ quan bảo vệ pháp luật của Nhà nước theo quy chế phối hợp. Đẩy mạnh công tác giáo dục, phòng ngừa, ngăn chặn và đấu tranh với những hành vi vi phạm kỷ luật đảng và pháp luật của Nhà nước. Xử lý kịp thời và nghiêm minh đối với những trường hợp vi phạm kỷ luật Đảng.

          5. Tiếp tục đổi mới hoạt động công tác dân vận

          Tăng cường quán triệt, thực hiện quan điểm, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước về công tác dân vận; về phát huy quyền làm chủ và mở rộng quyền làm chủ trực tiếp của nhân dân; quy định của Bộ Chính trị về công tác dân vận trong hệ thống chính trị. Các cấp uỷ đảng, chính quyền tăng cường cụ thể hoá công tác dân vận, chỉ đạo chuyên đề, hàng năm xây dựng chương trình công tác dân vận, lãnh đạo, chỉ đạo các tổ chức trong hệ thống chính trị triển khai thực hiện có hiệu quả. Phân công cấp uỷ viên và đảng viên, cán bộ chính quyền trực tiếp phụ trách công tác dân vận ở cơ quan, địa phương, đơn vị.

          Quan tâm chăm lo đào tạo, bồi dưỡng và có cơ chế, chính sách phù hợp đối với cán bộ làm công tác dân vận, mặt trận và các đoàn thể nhân dân; đảm bảo có trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kiến thức, kỹ năng về công tác dân vận; phát huy vai trò, hiệu quả công tác tham mưu và làm nòng cốt trong công tác dân vận.

          6. Đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng đối với hoạt động của chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể

          Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị. Khắc phục tình trạng bao biện, làm thay hoặc buông lỏng các cơ quan quản lý nhà nước. Đổi mới sự lãnh đạo của cấp uỷ đối với chính quyền thông qua công tác tổ chức cán bộ; tăng cường chỉ đạo và kiểm tra việc thực hiện các Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng đối với các cấp chính quyền; đồng thời, các cấp chính quyền phải kịp thời thể chế hoá Nghị quyết, chủ trương, chính sách của Đảng, có kế hoạch cụ thể nhằm xây dựng chính quyền vững mạnh, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả hơn. Đổi mới phương thức lãnh đạo của cấp uỷ Đảng đối với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị- xã hội, tôn trọng nguyên tắc hiệp thương dân chủ trong tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc các cấp. Phát huy vai trò, tính tích cực, chủ động trong tư vấn, giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể. Thực hiện chế độ lãnh đạo tập thể đi đôi với phát huy tinh thần chủ động, sáng tạo và trách nhiệm cá nhân, nhất là trách nhiệm của người đứng đầu.

          Với niềm tin và phấn khởi, Đảng bộ và nhân dân tỉnh ta đã vượt qua nhiều khó khăn thách thức, giành được nhiều thành tựu quan trọng trong phát triển kinh tế-xã hội, có vị thế xứng đáng trong khu vực và cả nước. Tình hình thế giới và trong nước đang thay đổi nhanh chóng, tạo cho tỉnh ta nhiều thời cơ nhưng cũng không ít thách thức. Đại hội XVII Đảng bộ tỉnh khẳng định quyết tâm của toàn Đảng, toàn thể nhân dân trong tỉnh phát huy thành tựu đã đạt được, tận dụng tốt thời cơ, vượt qua thách thức, nâng cao năng lực lãnh đạo toàn diện của Đảng bộ, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, tiếp tục đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, phát triển kinh tế xã hội nhanh và bền vững; thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ Đại hội đề ra, xây dựng tỉnh Hưng Yên giầu đẹp, dân chủ, công bằng và văn minh.

T/M Ban Chấp hành

Bí thư

(ĐÃ KÝ) 

Nguyễn Văn Cường

Tổng số trang1-20 (of 55)
Page:1 - 2 - 3.  Trước · Tiếp