2    7    3    2    7    3    
BẢN TIN THÔNG BÁO NỘI BỘ
Số: 213 - 2014
MỤC LỤC
Văn kiện Đảng/ Điều lệ Đảng (do Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng thông qua)

  Điều lệ Đảng (do Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng thông qua)

 

Cương lĩnh chung

 

Đảng lao động Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân Việt Nam, là đội tiền phong có tổ chức và là tổ chức cao nhất của giai cấp công nhân. Đảng gồm những người giác ngộ tiên tiến, gương mẫu, dũng cảm và hy sinh nhất trong giai cấp công nhân, trong nông dân lao động, trí thức cách mạng và các tầng lớp nhân dân lao động khác, tự nguyện đứng trong hàng ngũ Đảng mà phấn đấu. Đảng đại biểu quyền lợi của giai cấp công nhân, đồng thời đại biểu quyền lợi của nhân dân lao động và quyền lợi của dân tộc. Mục đích của Đảng là hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thực hiện chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam.

Đảng lao động Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng. Đảng rất coi trọng việc giáo dục những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin trong Đảng, trong nhân dân một cách rộng rãi và thường xuyên, coi đó là điểm mấu chốt đầu tiên trong công tác xây dựng Đảng và là một trong những điều kiện quyết định mọi thắng lợi của cách mạng. Đảng áp dụng những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam một cách đúng đắn và sáng tạo, chống mọi biểu hiện của chủ nghĩa kinh nghiệm và của chủ nghĩa giáo điều. Đảng bảo vệ những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin, chống mọi luận điệu của chủ nghĩa xét lại.

Để thực hiện mục đích và cương lĩnh của mình, trong 30 nǎm qua, Đảng Lao động Việt Nam đã ra sức phát huy truyền thống yêu nước của giai cấp công nhân và của dân tộc kết hợp với tinh thần quốc tế vô sản, ra sức phát huy truyền thống đấu tranh anh dũng và đoàn kết thống nhất của Đảng, củng cố và xây dựng Đảng thành một đảng Mác - Lênin vững mạnh. Nhờ đó, nǎm 1945 Đảng đã lãnh đạo cuộc Cách mạng Tháng Tám thành công, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Tiếp đó, Đảng đã lãnh đạo cuộc kháng chiến lâu dài và anh dũng, cuối cùng đã giành được thắng lợi. Miền Bắc đã hoàn toàn giải phóng khỏi ách đế quốc và đã xoá bỏ vĩnh viễn chế độ phong kiến, thực hiện người cày có ruộng.

Hiện nay đất nước Việt Nam còn tạm chia làm hai miền: miền Bắc đang tiến lên chủ nghĩa xã hội, miền Nam trở thành một thuộc địa kiểu mới của đế quốc Mỹ. Nhiệm vụ trước mắt của cách mạng Việt Nam là tǎng cường đoàn kết toàn dân, kiên quyết giữ vững hoà bình, đẩy mạnh cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, đồng thời đẩy mạnh cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, thiết thực góp phần tǎng cường phe xã hội chủ nghĩa và bảo vệ hoà bình ở Đông - Nam á và thế giới.

Để thực hiện nhiệm vụ của thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, Đảng phải lãnh đạo công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp nhỏ và công thương nghiệp tư bản chủ nghĩa, phát triển thành phần kinh tế quốc doanh, thực hiện công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa bằng cách ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý, đồng thời ra sức phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ để xây dựng với tốc độ cao một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa cân đối và hiện đại, kết hợp chặt chẽ công nghiệp với nông nghiệp. Song song với việc cải tạo và phát triển kinh tế, Đảng phải đẩy mạnh cuộc cách mạng về tư tưởng, vǎn hoá và kỹ thuật, không ngừng cải thiện đời sống và nâng cao trình độ mọi mặt của nhân dân. Đảng phải tǎng cường Nhà nước dân chủ nhân dân, củng cố quốc phòng và trị an, luôn luôn đề cao cảnh giác cách mạng. Đảng phải thúc đẩy sự phát triển về kinh tế và vǎn hoá của các dân tộc thiểu số, thực hiện các dân tộc bình đẳng hoàn toàn và thật sự. Đảng phải không ngừng củng cố và mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất trên cơ sở liên minh công nông, tǎng cường đoàn kết các giai cấp, các dân tộc, các tôn giáo, các đảng phái, các nhân sĩ yêu nước và tán thành chủ nghĩa xã hội, huy động mọi lực lượng nhân dân ra sức xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thực hiện thống nhất Tổ quốc.

Để thực hiện nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, Đảng chủ trương kiên trì đấu tranh chống chính sách chia cắt đất nước, nô dịch dân tộc, đàn áp nhân dân và gây chiến tranh của đế quốc Mỹ và bọn tay sai, nhằm giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc, phong kiến, thực hiện độc lập dân tộc và người cày có ruộng. Để hoàn thành nhiệm vụ đó, nhân dân miền Nam phải ra sức xây dựng khối công nông binh liên hợp và thực hiện một Mặt trận rộng rãi trên cơ sở liên minh công nông, đoàn kết các giai cấp, các dân tộc, các tôn giáo, các đảng phái yêu nước và tất cả những người có khuynh hướng chống đế quốc Mỹ và bọn tay sai. Trên cơ sở đó, phải ra sức tiến hành mọi biện pháp đấu tranh thích hợp để thực hiện thống nhất đất nước và đưa cách mạng tiến lên.

Cách mạng ở hai miền tuy thuộc hai nhiệm vụ chiến lược khác nhau nhưng liên hệ mật thiết với nhau và ảnh hưởng lẫn nhau. Cách mạng ở miền Bắc có tác dụng quyết định nhất đối với sự phát triển của toàn bộ cách mạng Việt Nam, đối với sự nghiệp thống nhất Tổ quốc. Cách mạng ở miền Nam có tác dụng quyết định trực tiếp đối với sự nghiệp giải phóng miền Nam, thực hiện hoà bình thống nhất nước nhà, hoàn thành nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước.

Đảng lao động Việt Nam nhận định cách mạng Việt Nam là một bộ phận tích cực của phong trào quốc tế đấu tranh cho chủ nghĩa xã hội, độc lập dân tộc và hoà bình thế giới; nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là một thành viên của phe xã hội chủ nghĩa hùng mạnh do Liên Xô vĩ đại đứng đầu. Đảng không ngừng góp phần củng cố và tǎng cường sự đoàn kết thống nhất giữa các đảng cộng sản và công nhân trên thế giới, củng cố và tǎng cường quan hệ hữu nghị và sự hợp tác anh em giữa các nước trong phe xã hội chủ nghĩa. Đảng có nhiệm vụ lãnh đạo giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam sát cánh với các dân tộc bị áp bức đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, sát cánh với giai cấp công nhân và nhân dân các nước đấu tranh cho hoà bình lâu dài trên toàn thế giới.

Đảng Lao động Việt Nam đi đường lối quần chúng trong mọi hoạt động của mình. Vì mục đích của Đảng không có gì khác là phục vụ lợi ích của giai cấp công nhân và của quần chúng nhân dân và vì cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân do Đảng lãnh đạo, cho nên Đảng và mỗi đảng viên phải quan tâm đến đời sống của quần chúng, phải học hỏi quần chúng, liên hệ chặt chẽ với quần chúng, hoà mình với quần chúng, tin và dựa vào quần chúng, không thể cô độc, tách rời khỏi quần chúng. Đảng phải mau lẹ và thường xuyên thu thập những nguyện vọng, ý kiến và kinh nghiệm của quần chúng để đề ra chủ trương, chính sách đúng đắn và phát động quần chúng ra sức thực hiện. Bởi vậy, một mặt Đảng phải chống theo đuôi quần chúng, mặt khác phải tích cực chống quan liêu, mệnh lệnh, bao biện làm thay là những biểu hiện xa rời quần chúng, nhất là trong hoàn cảnh Đảng lãnh đạo chính quyền.

Đảng Lao động Việt Nam tổ chức theo nguyên tắc tập trung dân chủ và có kỷ luật rất nghiêm minh. Tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức cǎn bản của Đảng. Nội dung của nó là tập trung trên cơ sở dân chủ và dân chủ dưới sự lãnh đạo tập trung. Mục đích của nó một mặt là phát huy và nâng cao tính tích cực cách mạng, tính sáng tạo của đông đảo đảng viên và các tổ chức của Đảng, mặt khác là bảo đảm sự thống nhất ý chí và hành động và gìn giữ kỷ luật của Đảng. Đảng phải luôn luôn nắm vững lãnh đạo tập thể là nguyên tắc lãnh đạo cao nhất của Đảng, đồng thời kết hợp với phân công phụ trách. Đảng chống mọi hiện tượng phân tán, cục bộ, địa phương chủ nghĩa, tự do vô kỷ luật cũng như chống mọi hiện tượng tập trung quan liêu, sự vụ, gia trưởng, độc đoán, coi thường tập thể, coi thường cấp dưới.

Đảng Lao động Việt Nam lấy tự phê bình và phê bình làm quy luật phát triển của Đảng. Đảng luôn luôn khuyến khích và mở rộng tự phê bình và phê bình, nhất là phê bình từ dưới lên, và cấm ngặt những hành động trấn áp phê bình. Đảng đấu tranh không điều hoà chống mọi biểu hiện khuynh hữu hoặc khuynh "tả", chống mọi biểu hiện của những tư tưởng tư sản, tiểu tư sản, phong kiến và tư tưởng không vô sản khác. Đảng yêu cầu mỗi đảng viên phải xác định nhân sinh quan cộng sản chủ nghĩa, đứng vững trên lập trường giai cấp công nhân, đấu tranh chống mọi biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân. Đảng khuyến khích và hoan nghênh việc quần chúng nhân dân phê bình công việc, cán bộ, đảng viên của Đảng và thành khẩn tiếp thụ sự phê bình đúng đắn của quần chúng.

Đảng rất coi trọng việc tǎng cường đoàn kết nhất trí trong nội bộ Đảng vì đó là sinh mệnh của Đảng. Đảng kiên quyết chống lại mọi hiện tượng chia rẽ, bè phái trong Đảng. Mỗi đảng viên phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như "giữ gìn con ngươi của mắt". Sự đoàn kết nhất trí đó phải dựa trên những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin và đường lối chính sách của Đảng và chỉ có thể thực hiện được trên cơ sở đấu tranh nội bộ về tư tưởng một cách nghiêm chỉnh. Tự phê bình và phê bình thành khẩn, thẳng thắn và đúng mức là một bảo đảm cho sự đoàn kết nhất trí đó.

Đảng Lao động Việt Nam nhận rõ sứ mạng của mình hết sức nặng nề nhưng rất vẻ vang. Trung thành với lợi ích của giai cấp công nhân và của dân tộc, Đảng luôn luôn vượt mọi khó khǎn gian khổ, phát huy mọi thuận lợi, quyết tâm làm tròn nhiệm vụ đối với giai cấp và dân tộc, cho nên được nhân dân toàn quốc hết sức yêu mến và tin tưởng. Nhưng mỗi đảng viên không được kiêu ngạo, tự mãn, trái lại phải hết sức khiêm tốn, phải trau dồi đạo đức cách mạng và ra sức học tập chính trị, vǎn hoá, kỹ thuật và nghiệp vụ để

nâng cao trình độ mọi mặt của mình và tǎng cường sự lãnh đạo của Đảng. Tất cả các đảng viên hãy hǎng hái, dũng cảm, gương mẫu thi hành cương lĩnh, nghị quyết của Đảng, đoàn kết nhân dân, ra sức phấn đấu để thực hiện mục đích cao quý của Đảng.

 

 

 

 

Chương I

 

 

Đảng viên

 

Điều 1. Tất cả những công dân Việt Nam từ 18 tuổi trở lên, có lao động, không bóc lột, thừa nhận Cương lĩnh và Điều lệ của Đảng, nguyện hoạt động trong một tổ chức cơ sở của Đảng, tích cực phấn đấu để thực hiện Cương lĩnh, Điều lệ của Đảng, phục tùng kỷ luật của Đảng và đóng đảng phí theo quy định, đều có thể được công nhận làm đảng viên.

Điều 2. Đảng viên có các nhiệm vụ như sau:

1. Tích cực phấn đấu để thực hiện mọi nghị quyết và chỉ thị của Đảng, tham gia sinh hoạt Đảng đều đặn, luôn luôn tìm cách hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ Đảng giao cho.

2. Giữ gìn và củng cố sự đoàn kết thống nhất của Đảng.

3. Phục tùng nghiêm chỉnh kỷ luật của Đảng. Gương mẫu chấp hành pháp luật của Nhà nước và kỷ luật của các đoàn thể cách mạng của quần chúng mà mình tham gia.

4. Ra sức học tập chủ nghĩa Mác - Lênin và đường lối chính sách của Đảng, học tập vǎn hoá, kỹ thuật và nghiệp vụ; không ngừng nâng cao trình độ chính trị, tư tưởng và nǎng lực công tác của mình.

5. Hết lòng hết sức phục vụ Đảng, phục vụ nhân dân. Đặt lợi ích của Đảng và lợi ích của nhân dân lên trên lợi ích cá nhân.

6. Luôn luôn thắt chặt quan hệ với quần chúng, học tập quần chúng, tìm hiểu, lắng nghe nguyện vọng và ý kiến của quần chúng để phản ánh cho Đảng và kịp thời giải quyết một cách thích đáng. Ra sức tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin và đường lối chính sách của Đảng trong quần chúng, tổ chức quần chúng thực hiện các chủ trương, chính sách và nghị quyết của Đảng; phát triển ảnh hưởng của Đảng trong quần chúng.

7. Gương mẫu trong lao động sản xuất, trong công tác, trong việc chấp hành chính sách của Đảng và Chính phủ, trong việc bảo vệ tài sản của Nhà nước và của tập thể; thực hành tiết kiệm, tích cực đấu tranh chống lãng phí, tham ô.

8. Thực hành tự phê bình và phê bình; kiên quyết đấu tranh với mọi tư tưởng và hành động ở trong Đảng và ngoài Đảng có hại đến lợi ích chung của Đảng, của cách mạng.

9. Tuyệt đối trung thành và thật thà với Đảng, không giấu giếm, xuyên tạc sự thật và cũng không dung túng cho ai giấu giếm, xuyên tạc sự thật với Đảng.

10. Giữ gìn bí mật của Đảng, của Nhà nước và luôn luôn cảnh giác với âm mưu phá hoại của kẻ địch.

Tất cả các đảng viên chính thức và đảng viên dự bị đều phải thực hiện những nhiệm vụ nói trên. Ai không thực hiện hoặc làm trái lại thì tổ chức của Đảng cần phê bình giáo dục hoặc thi hành kỷ luật.

Điều 3. Đảng viên chính thức có những quyền như sau:

1. Thảo luận một cách tự do và nghiêm chỉnh các vấn đề về đường lối, chính sách và công tác của Đảng trong các cuộc hội nghị của Đảng.

2. Biểu quyết công việc của Đảng; tuyển cử và ứng cử vào các cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng.

3. Trong hội nghị của Đảng, được phê bình, chất vấn về công tác của cán bộ, đảng viên và tổ chức của Đảng.

4. Đối với các nghị quyết của Đảng, phải chấp hành vô điều kiện, nhưng nếu có chỗ không đồng ý thì vẫn có thể đề đạt ý kiến của mình lên cơ quan lãnh đạo của Đảng cho đến Đại hội toàn quốc.

5. Đối với những vấn đề gì xét thấy cần, đều có thể báo cáo, đề đạt ý kiến hoặc khiếu nại lên các cơ quan lãnh đạo của Đảng.

6. Khi tổ chức của Đảng thảo luận để quyết định kỷ luật đối với mình hoặc nhận xét có ra nghị quyết về hoạt động hoặc đạo đức của mình thì được yêu cầu tổ chức của Đảng triệu tập mình đến để trình bày ý kiến.

Các đảng viên dự bị được hưởng các quyền trên đây trừ quyền biểu quyết và quyền tuyển cử và ứng cử vào các cơ quan lãnh đạo của Đảng.

Điều 4. Việc kết nạp người vào Đảng phải theo đúng các thủ tục sau đây:

1. Người xin vào Đảng phải tự mình yêu cầu với tổ chức Đảng và phải báo cáo rõ lý lịch của mình cho chi bộ xét.

2. Phải được hai đảng viên chính thức có ít nhất một nǎm tuổi đảng và đã cùng công tác một nǎm trở lên giới thiệu. Nếu là đoàn viên Đoàn Thanh niên Lao động và được Ban Chấp hành của Đoàn ở đơn vị cơ sở (xí nghiệp, xã, cơ quan, trường học, v.v.) giới thiệu thì chỉ cần một đảng viên chính thức có đủ các điều kiện kể trên giới thiệu.

Ở những nơi có chi đoàn thanh niên lao động, thì người thanh niên từ 18 đến 26 tuổi phải là đoàn viên mới được kết nạp vào Đảng.

Đảng viên giới thiệu người vào Đảng phải báo cáo với Đảng về lý lịch, phẩm chất người mình giới thiệu và chịu trách nhiệm trước Đảng về những lời giới thiệu của mình.

3. Phải được hội nghị chi bộ quyết định kết nạp vào Đảng và được cấp uỷ cấp trên trực tiếp của tổ chức cơ sở hoặc đảng uỷ cơ sở ở những tổ chức cơ sở có lập liên chi chuẩn y. Đối với một số tổ chức cơ sở tuy không thành lập liên chi, nhưng nếu được Ban Chấp hành Trung ương hoặc khu uỷ khu tự trị, tỉnh uỷ, thành uỷ trực thuộc uỷ nhiệm thì đảng uỷ cơ sở cũng được quyền chuẩn y việc kết nạp đảng viên. Trước khi quyết định kết nạp đảng viên, chi bộ phải xem xét kỹ lý lịch và phẩm chất của người xin vào Đảng để bảo đảm đúng là phần tử tiên tiến trong quần chúng, có đủ tiêu chuẩn vào Đảng; phải nói rõ Cương lĩnh, Điều lệ Đảng cho người xin vào Đảng hiểu.

Chi bộ phải xét từng người một để quyết định việc kết nạp.

4. Người được kết nạp vào Đảng phải trải qua một thời kỳ dự bị.

Mấy thủ tục đặc biệt:

- Ở những nơi chưa có tổ chức cơ sở của Đảng, cơ quan lãnh đạo cấp trên của Đảng có thể trực tiếp kết nạp đảng viên, nhưng vẫn phải theo đúng thủ tục: người muốn vào Đảng tự yêu cầu, có hai đảng viên chính thức có ít nhất một nǎm tuổi Đảng giới thiệu và do cấp uỷ có trách nhiệm thẩm tra lại kỹ trước khi kết nạp.

- Đối với các đảng viên các đảng phái khác sẽ do Ban Chấp hành Trung ương tuỳ hoàn cảnh mà quyết định chủ trương có kết nạp họ vào Đảng hay là không. Trường hợp nên kết nạp thì Ban Chấp hành Trung ương sẽ quy định các thủ tục riêng.

Điều 5. Về thời kỳ dự bị:

1. Thời kỳ dự bị quy định như sau: công nhân 9 tháng; các thành phần khác một nǎm. Thời kỳ dự bị tính từ ngày chi bộ tuyên bố kết nạp vào Đảng.

2. Trong thời kỳ dự bị, chi bộ cần giáo dục cho người đảng viên dự bị những điều tối thiểu cần thiết về chủ nghĩa cộng sản, về đường lối chính sách và nguyên tắc tổ chức của Đảng và dìu dắt, giúp đỡ đảng viên đó tiến bộ.

Điều 6. Khi hết thời kỳ dự bị, người đảng viên dự bị phải được xét để chuyển thành đảng viên chính thức. Việc xét này phải do hội nghị chi bộ làm từng người một như khi kết nạp.

Nếu vì một lẽ gì mà thấy chưa thể chuyển thành đảng viên chính thức được thì chi bộ có thể quyết định kéo dài thời kỳ dự bị thêm không quá một nǎm nữa. Nếu xét thấy không đủ tư cách đảng viên thì đưa ra khỏi Đảng.

Các nghị quyết của chi bộ về việc chuyển thành đảng viên chính thức, kéo dài thời kỳ dự bị phải được cấp uỷ cấp trên trực tiếp của chi bộ chuẩn y; việc đưa ra khỏi Đảng phải được cấp uỷ có thẩm quyền chuẩn y việc kết nạp đảng viên chuẩn y.

Tuổi đảng của đảng viên bắt đầu tính từ ngày được chi bộ công nhận làm đảng viên chính thức.

Điều 7. Đảng viên chuyển từ nơi này sang nơi khác phải được cấp uỷ Đảng giới thiệu đúng thủ tục để tham gia tổ chức Đảng nơi mình đến. Thủ tục giới thiệu sẽ theo một quy định cụ thể của Ban Chấp hành Trung ương.

Điều 8. Nếu đảng viên xin ra Đảng thì hội nghị chi bộ xét, quyết định xoá tên trong danh sách đảng viên và báo cáo lên cấp trên.

Điều 9. Đảng viên nào không có lý do chính đáng mà bỏ sinh hoạt Đảng hoặc không đóng đảng phí trong ba tháng liền thì sẽ coi như tự động ra khỏi Đảng. Hội nghị chi bộ sẽ quyết định xoá tên những đảng viên ấy trong danh sách đảng viên và báo cáo lên cấp uỷ cấp trên trực tiếp của chi bộ chuẩn y.

 

Chương II

 

 

Nguyên tắc tổ chức
và bộ máy tổ chức của đảng

 

Điều 10. Đảng Lao động Việt Nam tổ chức theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Những điều cǎn bản của nguyên tắc ấy là:

1. Các cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng đều do tuyển cử mà lập ra. (Trường hợp đặc biệt khó khǎn không thể tổ chức tuyển cử được mới do cấp trên chỉ định).

2. Cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng là Đại hội đại biểu toàn quốc.

Cơ quan lãnh đạo cao nhất của địa phương là Đại hội đại biểu của địa phương.

Cơ quan lãnh đạo cao nhất của tổ chức cơ sở là Đại hội đại biểu hoặc Đại hội đảng viên của tổ chức cơ sở.

Các Đại hội đại biểu hoặc Đại hội đảng viên cử ra ban chấp hành các cấp. Các ban chấp hành chịu trách nhiệm và báo cáo công việc đã làm trước Đại hội đại biểu hoặc Đại hội đảng viên.

3. Tổ chức các cấp của Đảng phải thực hiện đúng nguyên tắc tập thể lãnh đạo kết hợp với phân công phụ trách.

4. Các công việc của Đảng đều phải tùy theo tính chất trọng yếu của từng vấn đề mà do những cơ quan của Đảng có đủ thẩm quyền giải quyết. Đối với những vấn đề về đường lối, chính sách và những vấn đề quan trọng về chính trị đối với toàn quốc, thì đều phải do các cơ quan lãnh đạo toàn quốc (Đại hội toàn quốc, Ban Chấp hành Trung ương) quyết định. Đối với những vấn đề có tính chất địa phương, thì do các tổ chức của Đảng có thẩm quyền ở các cấp địa phương giải quyết trong phạm vi không trái với các nghị quyết của cấp trên.

5. Các nghị quyết trong các hội nghị của Đảng đều lấy theo ý kiến đa số. Trước khi biểu quyết, các đảng viên đều được phát biểu hết ý kiến của mình.

6. Các nghị quyết của Đảng phải được chấp hành vô điều kiện. Cá nhân đảng viên phải phục tùng tổ chức Đảng; thiểu số phục tùng đa số; tổ chức cấp dưới phục tùng tổ chức cấp trên; các tổ chức Đảng trong toàn quốc phục tùng Đại hội đại biểu toàn quốc và Ban Chấp hành Trung ương.

Điều 11. Tổ chức của Đảng được lập ra theo đơn vị hành chính và đơn vị sản xuất hoặc công tác. Thành lập một đảng bộ mới hoặc bãi bỏ một đảng bộ sẵn có đều phải do cấp trên trực tiếp quyết định và cấp trên nữa chuẩn y.

Tổ chức của Đảng trong Quân đội nhân dân Việt Nam là một bộ phận tổ chức của Đảng đặt dưới sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Trung ương. Ban Chấp hành Trung ương có thể thành lập Quân uỷ Trung ương (gồm một số uỷ viên Trung ương trong và ngoài quân đội) là cơ quan giúp Ban Chấp hành Trung ương lãnh đạo các mặt công tác của Đảng trong quân đội. Nhiệm vụ, quyền hạn của Quân uỷ Trung ương và cách tổ chức các cấp của Đảng trong quân đội sẽ do Ban Chấp hành Trung ương quy định cụ thể.

Tổng cục chính trị của Quân đội nhân dân Việt Nam đảm nhiệm công tác tư tưởng và công tác tổ chức của Đảng trong quân đội dưới sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Trung ương và của Quân uỷ Trung ương trong phạm vi được Ban Chấp hành Trung ương uỷ quyền.

Các cấp uỷ Đảng trong quân đội có nhiệm vụ giữ mối liên hệ chặt chẽ với các cấp uỷ địa phương theo một quy định của Ban Chấp hành Trung ương.

Trường hợp đặc biệt và hạn chế, được Ban Chấp hành Trung ương ra quyết nghị thì mới được lập tổ chức khác của Đảng theo hệ thống ngành dọc.

Ở những khu vực quan trọng về kinh tế, chính trị v.v. Ban Chấp hành Trung ương có thể lập ra những tổ chức đặc biệt của Đảng. Ban Chấp hành Trung ương quy định quyền hạn và nhiệm vụ của những tổ chức đặc biệt này.

Điều 12. Cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng tổ chức như sau:

- Trong toàn quốc là Đại hội đại biểu toàn quốc; giữa hai kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc là Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

- Ở khu tự trị, tỉnh và thành phố trực thuộc là Đại hội đại biểu khu tự trị, tỉnh, thành phố trực thuộc; giữa hai kỳ Đại hội đại biểu là Ban Chấp hành khu tự trị, tỉnh, thành phố trực thuộc (gọi tắt là khu uỷ khu tự trị, tỉnh uỷ, thành uỷ trực thuộc).

- Ở huyện, quận, thị xã, thành phố khác, khu phố (thuộc thành phố trực thuộc) là Đại hội đại biểu huyện, quận, thị xã, thành phố, khu phố (thuộc thành phố trực thuộc); giữa hai kỳ Đại hội đại biểu là các Ban Chấp hành huyện, quận, thị xã, thành phố, khu phố (thuộc thành phố trực thuộc) gọi tắt là huyện uỷ, quận uỷ, thị uỷ, thành uỷ, đảng uỷ khu phố (thuộc thành phố trực thuộc).

- Ở đơn vị cơ sở (xí nghiệp, xã, khu phố, thị trấn, cơ quan, bệnh viện, trường học, đơn vị đại đội trong Quân đội nhân dân Việt Nam và các đơn vị cơ sở khác) là Đại hội đại biểu hoặc Đại hội đảng viên của đơn vị cơ sở; giữa hai kỳ Đại hội là Ban chấp hành của đơn vị cơ sở.

Điều 13. Khi tổ chức bầu cử trong Đảng, phải bảo đảm việc lựa chọn được chính xác, đồng thời phải bảo đảm đầy đủ tính chất dân chủ. Danh sách ứng cử phải được người bầu cử thảo luận; người bầu cử có quyền bầu hay là không bầu đối với mỗi người ứng cử, không một cơ quan hay là một đảng viên nào được gò ép hoặc bắt buộc.

Việc bầu cử các cơ quan lãnh đạo của Đảng phải theo cách bỏ phiếu kín. ở đơn vị cơ sở, trong trường hợp không thể dùng cách bỏ phiếu thì có thể bầu cử bằng cách giơ tay biểu quyết, nhưng phải biểu quyết từng người ứng cử một.

Điều 14. Tất cả các đại biểu đi dự Đại hội đại biểu các cấp đều phải do bầu cử từ dưới lên. Đối với những Đảng bộ vì hoàn cảnh đặc biệt khó khǎn không thể tổ chức bầu cử được thì Ban Chấp hành Trung ương sẽ chỉ định đại biểu các đảng bộ đó đi dự Đại hội đại biểu toàn quốc. Danh sách các đại biểu đi dự Đại hội đại biểu cuối cùng phải được Đại hội đại biểu thẩm tra và quyết định.

Phải có quá 2/3 số đại biểu chính thức được triệu tập đến tham dự, thay mặt cho quá 2/3 số đảng viên và quá 2/3 số đảng bộ trực thuộc thì Đại hội đại biểu mới có giá trị.

Điều 15. Giữa hai kỳ Đại hội đại biểu, khi cần quyết định những vấn đề quan trọng hoặc bổ sung một số uỷ viên ban chấp hành, thì các cấp uỷ có thể triệu tập Hội nghị đại biểu (Hội nghị đại biểu toàn quốc, hội nghị đại biểu khu tự trị, tỉnh, thành phố trực thuộc, huyện, quận, thị xã, thành phố, khu phố thuộc thành phố trực thuộc). Hội nghị đại biểu gồm các uỷ viên trong cấp uỷ đứng ra triệu tập và các đại biểu do cấp uỷ cấp dưới cử lên. Thành phần, số lượng đại biểu của Hội nghị đại biểu và cách thức bầu do cấp uỷ đứng ra triệu tập quyết định dựa theo một nghị quyết chung của Ban Chấp hành Trung ương.

Nghị quyết của Hội nghị đại biểu phải do cấp uỷ triệu tập thông qua. Những uỷ viên được bầu cử bổ sung vào các cấp uỷ địa phương phải được cấp uỷ cấp trên trực tiếp chuẩn y.

Điều 16. Ban chấp hành các cấp từ huyện trở lên gồm một số uỷ viên chính thức và một số uỷ viên dự khuyết. Ban chấp hành của tổ chức cơ sở (Đảng uỷ hoặc chi uỷ xí nghiệp, xã, cơ quan, trường học, v.v.), nếu xét thấy cần, cũng có thể có uỷ viên dự khuyết. Các uỷ viên dự khuyết được tham dự hội nghị ban chấp hành nhưng không có quyền biểu quyết.

Khi uỷ viên chính thức các ban chấp hành các cấp thiếu thì lấy uỷ viên dự khuyết lên thay, theo thứ tự số phiếu đã được bầu ở Đại hội đại biểu hoặc Đại hội đảng viên. Nếu hết uỷ viên dự khuyết mà còn thiếu nữa thì do Hội nghị đại biểu bầu cử bổ sung hoặc do cấp trên chỉ định.

Ban chấp hành cấp dưới phải được cấp uỷ cấp trên trực tiếp chuẩn y.

Ban chấp hành cấp trên, trong trường hợp thật cần thiết, có thể điều động hoặc chỉ định một số uỷ viên của ban chấp hành cấp dưới. Nhưng số uỷ viên được điều động hoặc chỉ định không được quá 1/3 số uỷ viên do Đại hội cấp dưới đã cử ra.

Điều 17. Cơ quan lãnh đạo cấp trên của Đảng và cán bộ lãnh đạo cấp trên trong khi tiến hành công tác phải thường xuyên lắng nghe ý kiến của tổ chức cấp dưới và đảng viên, tiếp thụ sáng kiến và kinh nghiệm của họ; phải khuyến khích tổ chức cấp dưới và đảng viên phê bình và kiểm tra công tác của mình.

Cơ quan lãnh đạo cấp dưới và cán bộ cấp dưới của Đảng trong khi tiến hành công tác phải chú trọng giữ gìn nguyên tắc lãnh đạo tập trung thống nhất của Đảng; phải theo đúng đường lối chính sách của Đảng và nghị quyết của cấp trên; gặp các vấn đề thuộc thẩm quyền tổ chức cấp trên quyết định thì phải kịp thời báo cáo và xin chỉ thị. Đồng thời phải hết sức phát huy tính tích cực và tính sáng tạo để giải quyết các vấn đề thuộc trách nhiệm của mình.

Cán bộ, đảng viên và các tổ chức của Đảng phải nắm vững nguyên tắc: bộ phận phải phục tùng toàn bộ; việc nhỏ trong phạm vi hẹp phải phục tùng việc lớn trong phạm vi rộng; tránh bản vị, cục bộ. Giữa các địa phương và các ngành với nhau cần phát huy tinh thần hợp tác và giúp đỡ nhau trong công tác.

Điều 18. Cán bộ và tổ chức các cấp của Đảng không được tự ý ra chỉ thị, nghị quyết hoặc tuyên truyền ý kiến riêng của mình về những vấn đề chính sách thuộc phạm vi quyền hạn của cấp trên, nhưng vẫn có quyền thảo luận trong hội nghị của Đảng để đề đạt ý kiến lên.

Báo chí của tổ chức các cấp của Đảng phải tuyên truyền chính sách và nghị quyết của Trung ương Đảng, của tổ chức cấp trên và tổ chức cấp mình.

Trong các cuộc hội nghị quần chúng và trên các báo chí công khai, cán bộ, đảng viên khi phát biểu ý kiến đều phải theo đúng đường lối, chính sách và nghị quyết của Đảng.

Điều 19. Ban chấp hành các cấp của Đảng, tùy theo sự cần thiết, được lập ra một số cơ quan giúp việc. Thành phần, quyền hạn, trách nhiệm và cách làm việc của các cơ quan này do cấp uỷ lập ra quyết định, dựa theo một quy định chung của Ban Chấp hành Trung ương.

Gặp những việc đặc biệt, các cấp uỷ có thể lập ra những ban đặc biệt, xong việc rồi thì giải tán.

 

Chương III

 

 

Tổ chức trung ương của Đảng

 

Tổng số trang1-20 (of 55)
Page:1 - 2 - 3.  Trước · Tiếp