2    7    2    8    5    8    
BẢN TIN THÔNG BÁO NỘI BỘ
Số: 213 - 2014
MỤC LỤC
Văn kiện Đảng bộ tỉnh Hưng Yên/ Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XV

 NÂNG CAO NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO VÀ SỨC CHIẾN ĐẤU CỦA ĐẢNG BỘ, PHÁT HUY MỌI NGUỒN LỰC, TIẾP TỤC ĐỔI MỚI, ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ, XÂY DỰNG TỈNH HƯNG YÊN GIẦU MẠNH, XÃ HỘI CÔNG BẰNG, DÂN CHỦ, VĂN MINH

 

BÁO CÁO CHÍNH TRỊ

 TRÌNH ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU ĐẢNG BỘ TỈNH

LẦN THỨ XV

 

 

Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII và các nghị quyết của Trung ương, Chỉ thị 54 của Bộ Chính trị về Đại hội Đảng bộ các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng. Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV có nhiệm vụ đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV, xây dựng phương hướng nhiệm vụ 5 năm 2001 - 2005 trong chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 10 năm đầu thế kỷ XXI, nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ, phát huy mọi nguồn lực, tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng tỉnh Hưng Yên giầu mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

 

 

I- ĐÁNH GIÁ VIỆC THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI ĐẢNG BỘ TỈNH LẦN THỨ XIV

A- NHỮNG THÀNH TỰU, TIẾN BỘ

Nền kinh tế từ điểm xuất phát thấp, với những khó khăn thử thách gay gắt của tỉnh mới tái lập, chịu tác động do những khó khăn chung của cả nước: Thiên tai liên tiếp, cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở khu vực Châu Á, tình hình thế giới diễn biến phức tạp, Đảng bộ và nhân dân Hưng Yên tiếp tục đổi mới giành được những thành tựu và tiến bộ quan trọng; hoàn thành khá toàn diện mục tiêu Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV đề ra. Kinh tế tăng trưởng nhanh, tương đối vững chắc, văn hoá xã hội có những tiến bộ mới, tăng cường an ninh quốc phòng, giữ vững ổn định chính trị, cải thiện một bước đời sống nhân dân, đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng đạt kết quả bước đầu, tạo tiền đề vững chắc để thực hiện nhiệm vụ những năm đầu của thế kỷ XXI.

1- Kinh tế: Phát triển nhanh tương đối toàn diện. Tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) tăng bình quân 12,17%  (mục tiêu Đại hội 10%/năm).

- Cơ cấu kinh tế: Nông nghiệp – Công nghiệp, Xây dựng - Dịch vụ: 41,5% - 27,8% - 30,7% (mục tiêu Đại hội 40% - 28% - 32%) (năm 1996: 60% - 15% - 25%).

- Thu nhập bình quân đầu người 300 USD (mục tiêu Đại hội 300 USD).

a) Nông nghiệp: Phát triển tương đối toàn diện, giá trị sản xuất nông nghiệp tăng bình quân 6% (mục tiêu Đại hội 4,5% - 5%); công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn thực hiện đạt kết quả khá, tích cực chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn, áp dụng rộng rãi tiến bộ sinh học vào sản xuất; đưa giống cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao vào sản xuất. Sản lượng lương thực quy thóc đạt 550.000 tấn. Năng suất lúa năm 2000 đạt 11,93 tấn (năm 1997: 9,8 tấn). Giá trị thu được bình quân trên 1 ha canh tác tăng từ 28 triệu năm 1997 lên 32 triệu năm 2000. Lương thực bình quân đầu người từ 460 kg năm 1997 lên 520 kg năm 2000. Cây ăn quả đặc sản, cây xuất khẩu, tinh dầu, đậu, các loại tăng khá. Do nhu cầu sức kéo và thị trường nên đàn trâu, đàn bò giảm, chất lượng đàn bò được nâng lên. Chăn nuôi lợn, gia cầm, thuỷ sản tiếp tục phát triển. Chương trình "nạc hoá đàn lợn", "sind hoá đàn bò" thu hút đông đảo hộ nông dân tham gia. Nhiều mô hình trang trại chăn nuôi theo phương pháp công nghiệp được hình thành và được nhân lên.

b) Công nghiệp: Giá trị sản xuất trên địa bàn tăng nhanh; bình quân tăng 60,17% (mục tiêu Đại hội 20%). Giá trị sản lượng công nghiệp năm 2000 đạt 2.350 tỷ đồng (năm 1996: 355 tỷ), công nghiệp địa phương từng bước được mở rộng, đầu tư chiều sâu nên phát triển khá, tăng bình quân 17,7%/năm; tiểu thủ công nghiệp làng nghề được quan tâm khuyến khích, hỗ trợ đầu tư, nhiều mô hình năng động sáng tạo trong sản xuất kinh doanh, hợp tác liên kết kinh tế phát triển. Khu vực ngoài kinh tế nhà nước tăng bình quân 12%/năm.

Tỉnh có chính sách, cơ chế cởi mở khuyến khích các nhà đầu tư quy hoạch 3 khu công nghiệp: Phố Nối, Như Quỳnh, thị xã Hưng Yên, nên công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, tỉnh ngoài tăng cao: Bình quân 2,8 lần/năm, với 11 dự án nước ngoài, 31 dự án tỉnh ngoài, số vốn đăng ký là 165 triệu USD, trong đó 11 dự án đã hoạt động (4 dự án nước ngoài và 7 dự án tỉnh ngoài), thực sự tạo động lực thúc đẩy kinh tế Hưng Yên; 4 năm đã nộp ngân sách tỉnh trên 120 tỷ, thu hút được 2.300 lao động.

 c) Dịch vụ: Phát triển khá tốc độ tăng trưởng bình quân 15,48% (mục tiêu Đại hội trên 15%). Xuất khẩu: khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia, tốc độ tăng khá: 20,6%/năm, tỷ trọng hàng xuất khẩu sản phẩm công nghiệp, nông nghiệp của tỉnh tăng nhanh từ 3 triệu USD năm 1997 lên 10 triệu USD năm 2000: Kim ngạch xuất khẩu 26,28 triệu USD/năm (mục tiêu Đại hội 25 triệu USD). Các mặt hàng chủ yếu tăng nhanh: May mặc, điện tử, giầy thể thao, hàng thủ công mỹ nghệ.

Hệ thống thương nghiệp được tổ chức sắp xếp lại, mở rộng quy mô, cải tiến phương thức phục vụ, đáp ứng tốt hơn nhu cầu sản xuất và đời sống của nhân dân, tỉnh đã chỉ đạo khôi phục, tôn tạo di tích lịch sử văn hoá tạo điều kiện thu hút khách thăm quan du lịch.

d)Kết cấu hạ tầng: Được nâng cấp, đầu tư mới khá đồng bộ, góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội. Các tuyến tỉnh lộ huyết mạch: Đường 206, 200, 205, đê sông Hồng, đường trục chính thị xã Hưng Yên, đường trong khu công nghiệp, bến phà Yên Lệnh, bến xe, bến cảng được khẩn trương xây dựng. Nhiều tuyến huyện lộ đồng thời được nâng cấp như đường 202, 203, 204, 208. 150 km đường tỉnh và đường huyện được nâng cấp rải nhựa với số vốn là 138 tỷ đồng bằng 30% tổng vốn ngân sách tập trung, gấp 3 lần trước lúc tái lập tỉnh. Giao thông nông thôn có nhiều khởi sắc; nâng cấp cải tạo 300 km đường các loại với kinh phí 63 tỉ đồng. Dự án giao thông nông thôn (WB2) đang tích cực triển khai với mức vốn 50 tỷ đồng.

Theo quy hoạch, đã xây mới 15 trạm bơm, tiếp tục cải tạo nâng cấp một số trạm bơm cho chống úng, tưới bãi. Tăng cường cơ sở vật chất cho ngành Giáo dục, Y tế. Xây mới 1.230 phòng học kiên cố cao tầng. Đang nâng cấp Bệnh viện đa khoa tỉnh, một số bệnh viện tuyến huyện. Nhiều trạm xá xã gắn với trung tâm kế hoạch hoá gia đình được xây mới, bổ sung trang thiết bị điều trị.

Bưu chính viễn thông được đầu tư nhanh, đồng bộ, hiện đại đáp ứng kịp thời nhu cầu phát triển của tỉnh. Phát triển nhanh các dịch vụ mới; xây dựng mới 89 điểm bưu điện-văn hoá xã. Làm tốt công tác phát hành báo chí.

 

 

Lưới điện trên địa bàn tỉnh được từng bước cải tạo, phát triển theo quy hoạch đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội. Xây dựng đường dây và trạm 110 KV Phố Nối, đầu tư 61 tỷ đồng để xây mới, sửa chữa lớn lưới điện, máy biến áp di động 110 KV, xây mới 142 trạm biến thế, 96 km đường dây trung thế. Điện thương phẩm tăng 1,65 lần so với năm 1997.

 

Xây mới giai đoạn 1 Đài phát thanh truyền hình tỉnh, Xưởng in báo Hưng trên, tăng cường cơ sở vật chất cần thiết cho văn hoá thông tin, thể dục thể thao; xây mới 22  trụ sở làm việc các cơ quan tỉnh; chuẩn bị đầu tư cơ sở vật chất cho các huyện mới tái lập. Công tác quy hoạch từ tỉnh, các ngành, các huyện, thị, khu công nghiệp được chỉ đạo chặt chẽ hơn, tăng cường công tác quản lý nhà nước về xây dựng cơ bản.

Tổng nguồn vốn đầu tư trên địa bàn 4 năm đạt 3.355 tỷ đồng (trong đó vốn do Trung ương quản lý 800 tỷ đồng, vốn đầu tư nước ngoài, tỉnh ngoài 817 tỷ đồng) dùng cho phát triển công nghiệp 47%, nông nghiệp nông thôn 23%, giao thông vận tải 16 %. Đầu tư bằng vốn ngân sách tập trung tỉnh quản lý 400 tỷ đồng; tập trung cho cơ sở hạ tầng, ưu tiên cho nông nghiệp, nông thôn (từ 32% năm 1997  lên 47% năm 2000, riêng nông nghiệp thuỷ lợi 23%).

đ) Công tác tài chính, tiền tệ, tín dụng: Được chấn chỉnh, đổi mới một bước. Qua 4 năm đều hoàn thành vượt mức kế hoạch thu, năm sau cao hơn năm trước. Tổng thu bình quân trên địa bàn 190 tỷ đồng/năm; thu ngân sách địa phương bình quân đạt 110 tỷ đồng/năm. Tổng chi ngân sách 347 tỷ/năm, đáp ứng kịp thời có hiệu quả cho phát triển kinh tế-xã hội, quốc phòng, an ninh của tỉnh. Tỉnh có cơ chế khuyến khích các doanh nghiệp vượt kế hoạch thu ngân sách được tái đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh, những doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả, kinh doanh xuất khẩu, giải quyết nhiều lao động được hỗ trợ vốn từ 30% đến 50% nên đã kích thích các doanh nghiệp phát triển. Công tác thanh tra tài chính được duy trì cùng với hệ thống kho bạc để kiểm soát việc thực hiện chế độ chi tiêu hành chính sự nghiệp, chống lãng phí, thực hành tiết kiệm.

Áp dụng nhiều biện pháp huy động vốn, tổng vốn huy động tăng bình quân 23% năm (năm 2000 là 780 tỷ dư nợ 630 tỷ, dư nợ ngân hàng người nghèo trên 100 tỷ đồng). Mở rộng tín dụng với cơ chế lãi suất tiền gửi, tiền vay linh hoạt, tỷ trọng vốn trung và dài hạn tăng nhanh chiếm 360%. 75% lượt hộ nông dân được vay vốn góp phần tăng hộ giầu, giảm hộ nghèo. Chất lượng tín dụng được nâng lên. Công tác tiền tệ đáp ứng tốt hơn nhu cầu trên địa bàn.

e) Khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển: Nhằm giải phóng sức sản xuất, phát triển lực lượng sản xuất. Thành lập mới doanh nghiệp nhà nước thực sự cần thiết phục vụ cho xuất khẩu, phục vụ nhu cầu thiết yếu lấy hiệu quả kinh tế-xã hội để làm thước đo, sắp xếp một bước các doanh nghiệp có khó khăn để vươn lên. Thí điểm cổ phần hoá 167 hợp tác xã đã chuyển đổi và xây dựng mới theo mô hình đa dạng và tự nguyện, đóng góp cổ phần kinh doanh tổng hợp, chuyên khâu. Dịch vụ thuỷ nông, điện, tiểu thủ công nghiệp, quỹ tín dụng nhân dân. 120 hợp tác xã đã đăng ký, nhiều hợp tác xã kinh doanh có hiệu quả. Kinh tế hộ, kinh tế gia đình, cá thể, kinh tế trang trại được khuyến khích phát triển. Toàn tỉnh đã có 110 doanh nghiệp ngoài kinh tế nhà nước đang hoạt động và từng bước mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh.

2- Đời sống, văn hoá, xã hội:

Đời sống nhân dân được cải thiện, số hộ giàu chiếm khoảng 26%, cơ bản xoá hộ đói giảm hộ nghèo từ trên 10% xuống 6,67%; thu nhập bình quân đầu người từ 180 USD năm 1996 lên 300 USD năm 2000. Nhu cầu ăn ở, đi lại học hành, điện, nước sinh hoạt, chữa bệnh, hưởng thụ văn hoá dược đáp ứng tất hơn. Tỉnh có chương trình hỗ trợ cho 19 xã khó khăn với số tiền là 6,1 tỷ đồng để xây dựng kết cấu hạ tầng, tạo điều kiện vươn lên.

Quan tâm chăm sóc thương binh, gia đình hệt sỹ, những người có công với nước. Xây dựng và nâng cấp trên 600 nhà tình nghĩa với tổng số tiền trên 7 tỷ đồng, 100% bà mẹ Việt Nam anh hùng có nhà kiên cố. Xây dựng đài tưởng niệm và tu sửa các nghĩa trang, tặng trên 10 nghìn sổ tiết kiệm tình nghĩa cho các gia đình chính sách. Giúp đỡ người nhiễm chất độc chiến tranh, cô đơn, học sinh nghèo vượt khó, các cháu có hoàn cảnh khó khăn đặc biệt.

Công tác dân số và kế hoạch hoá gia đình chuyển biến tích cực, tăng cường đầu tư bổ sung nhiều thiết bị kỹ thuật đảm bảo an toàn. Tăng cường công tác truyền thông. Biện pháp tránh thai đa dạng, số người áp dụng ngày càng tăng, tỷ suất sinh giảm 0,08%, tỷ lệ phát triển dân số còn 1.2%.

Đã tạo thêm mỗi năm 1,4 vạn người có việc làm thường xuyên nhờ chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, mở rộng ngành nghề và phát triển công nghiệp (trong đó 6.800 người được nhận vào các xí nghiệp công nghiệp), đưa 1.650 hộ với 6.850 khẩu đi xây dựng vùng kinh tế mới, 3.000 người đi lao động hợp tác nước ngoài. Công tác bảo vệ sức khoẻ nhân dân được quan tâm, sắp xếp lại hệ thống điều trị, thành lập Bệnh viện đông y. Bệnh viện lao và bệnh phổi, tăng thêm thiết bị và phương tiện khám, chữa bệnh; coi trọng chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân dân; tiêm chủng mở rộng cho trẻ em, chủ động phòng ngừa không để dịch bệnh lớn lây lan, thực hiện mua bảo hiểm y tế cho người nghèo, chất lượng khám chữa bệnh các tuyến được nâng lên một bước. Ngành Y tế thực hiện thống nhất về quản lý tổ chức cán bộ, chuyên môn nghiệp vụ từ tỉnh đến cơ sở. Đã có 50% trạm xá xã có bác sỹ.

Sự nghiệp giáo dục đào tạo tiếp tục phát triển, học sinh các cấp đều tăng: THPT tăng bình quân 17%/ năm, THCS 2.1 %/năm, tiểu học 1.05%/năm. Các cháu vào nhà trẻ, mẫu giáo tăng, mẫu giáo 5 tuổi đến lớp đạt trên 95%. Chất lượng giáo dục toàn diện được nâng lên. Có 14 trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia. Hoàn thành phổ có 85,6% số xã đạt phổ cập THCS. Số học sinh tốt nghiệp các cấp đạt cao (trên 90%). Tỉnh có chính sách khen thưởng thoả đáng đối với học sinh học giỏi, thầy dạy giỏi. Công tác xã hội hoá giáo dục có chuyển biến tích cực; đã thành lập Hội khuyến học tỉnh; các cơ sở, trường học đều có Chi hội khuyến học. Tỷ lệ học sinh THPT đỗ đại học, cao đẳng bình quân đạt 23%; có 131 học sinh giỏi đạt giải quốc gia. Toàn dân chăm lo để phát triển sự nghiệp giáo dục đào tạo; thành lập thêm 7 trường, 2 phân hiệu THPT, trong đó có 3 trường THPT dân lập, 70% phòng học phổ thông kiên cố cao tầng; mặt bằng dân trí, chất lượng nguồn nhân lực tiếp tục được nâng lên.

Khoa học-công nghệ tập trung ứng dụng tiến bộ vào sản xuất. Trong nông nghiệp đã áp dụng tiến bộ sinh học vào sản xuất giống, tuyển chọn và nhân giống nhãn, chuyển giao công nghệ, chế biến bảo quản nông sản thẩm định thiết bị và công nghệ mới; tham gia một số chương trình nghiên cứu và khảo sát cấp Nhà nước. Dành trên 8 tỷ đồng cho các đề tài khoa học và công nghệ, bổ sung thiết bị tăng cường quản lý nhà nước về khoa học công nghệ, bảo vệ tài nguyên, môi trường. Đời sống văn hoá được quan tâm hơn và có nhiều tiến bộ. Xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hoá, làng văn hoá (30% số làng được công nhận là làng văn hoá, trên 60% gia đình văn hoá); di tích lịch sử văn hoá được bảo tồn, tôn tạo; bản sắc văn hoá dân tộc được phát huy, hướng về cơ sở sinh động, hấp dẫn, thu hút đông đảo quần chúng tham gia. Phát thanh, truyền hình, báo chí,thông tin, xuất bản được đổi mới,nâng cao chất lượng cả nội dung, hình thức theo hướng hiện đại và cập nhật thông tin, nâng cao kiến thức và năng lực hưởng thụ văn hoá của nhân dân.

Thể dục thể thao có nhiều cố gắng hướng về cơ sở, tuyên truyền, phát động được đông đảo quần chúng tham gia, đã có một số môn thể thao mũi nhọn có vận động viên đạt huy chương quốc gia.

----------------------------------------------------------------------------------------

 

 

 

 

 

 

3- Giữ vững ổn định chính trị, củng cố Quốc phòng, an ninh:

 

Giữ vững vai trò lãnh đạo của cấp uỷ đối với lực lượng công an, quân đội. thường xuyên giáo dục, nâng cao ý thức cảnh giác chống âm mưu “diễn biến hoà bình” và hoạt đông phá hoại của các thế lực thù địch, tăng cường bảo vệ chính trị nội bộ; nắm chắc địa bàn, cảm hoá đối tượng lầm lỗi, phối hợp sử dụng nhiều biện pháp sát thực giải quyết ổn định tình hình an ninh nông thôn để bảo vệ và phát triển kinh tế; chủ động phòng ngừa và truy quét tội phạm. Nhìn chung, chính trị ổn định, an ninh được giữ vững, trật tự an toàn xã hội có mặt tiến bộ.

Tăng cường xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, coi trọng huấn luyện sẵn sàng chiến đấu. Công tác huấn luyện dân quân tự vệ, dự bị động viên thực hiện thường xuyên, sát tình hình thực tế. Hoàn thành tốt kế hoạch theo phương án A2, diễn tập HY 99. Công tác tuyển quân được tập trung chỉ đạo, đảm bảo hoàn thành tốt cả số lượng, chất lượng. Thực hiện tốt các chính sách hậu phương quân đội. Chất lượng công tác điều tra, truy tố, xét xử được nâng lên. Số vụ án phải cải sửa, số lượng án tồn đọng giảm. Sự phối hợp giữa các ngành làm án thường xuyên chặt chẽ, đảm bảo quy định của pháp luật. Đã làm tốt hơn công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật trong nhân dân. Công tác vận động hoà giải ở cơ sở có hến bộ. Chất lượng công tác thanh tra, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân được nâng lên.

4- Công tác xây dựng Đảng, kiện toàn hệ thống chính trị, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân:

Tỉnh uỷ đã quán triệt tập trưng lãnh đạo. "Phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chết" nhằm xây dựng Đảng bộ vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức.

Công tác chính trị tư tưởng được coi trọng đúng mức. Các chỉ thị nghị quyết của Trung ương. Tỉnh uỷ được quán triệt nghiêm túc, kịp thời, gắn với chương trình hành động của từng cấp, từng ngành. Thông tin nội bộ, thông tin đại chúng tăng nhanh về số lượng, chất lượng, có nhiều tiến bộ. Việc điều tra dư luận xã hội và lắng nghe ý kiến của nhân dân được coi trọng. Tổ chức kỷ niệm các ngày lễ lớn được đổi mới về nội dung và hình thức, gắn với giáo dục truyền thống và phong trào thi đua yêu nước, đẩy mạnh các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể thao ở cơ sở. Công tác giáo dục lý luận chính trị cho cán bộ đảng viên dược triển khai tích cực. Đã có 3.790 đồng chí được học lý luận chính tả phổ thông, 3.206 đồng chí được học về công tác xây dựng Đảng, 1269 đồng chí đã và đang học chương trình trung học và cử nhân lý luận chính trị. Công tác tư tưởng đã góp phần nâng cao nhận thức chính trị, ý thức cảnh giác cách mạng củng cố lòng tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, công cuộc đối mới, thúc đẩy việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương.

Công tác tổ chức đã thường xuyên củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ chức Đảng và đảng viên, làm tốt công tác xây dựng cơ sở Đảng trong sạch, vững mạnh, tập trung giải quyết các cơ sở yếu kém, góp phần tích cực vào việc giữ gìn ổn định chính trị trên địa bàn tỉnh. Hàng năm số cơ sở Đảng trong sạch vững mạn h đạt trên 70%. Cơ sở Đảng yếu kém giảm từ 4,9% năm 1997 còn 3,7% năm 1999. Tỉnh uỷ đã ban hành các quy định, quyết định về đánh giá, bổ nhiệm quản lý và tiếp nhận cán bộ. Nhìn chung đội ngũ cán bộ được giao nhiệm vụ đều phấn đấu hoàn thành. Coi trọng đào tạo bồi dưỡng cán bộ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao. Chăm lo phát triển đảng viên mới, chú ý cả về số lượng và chất lượng, bình quân hàng năm kết nạp trên 1.200 đảng viên.

Công tác kiểm tra của Đảng từng bước được tăng cường. Đã kiểm tra được 778 lượt tổ chức Đảng, 2.415 lượt đảng viên (có 503 cấp uỷ viên các cấp) trong việc chấp hành điều lệ Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng và thực hiện nhiệm vụ đảng viên, cấp uỷ viên. Kết luận 1.351 đảng viên và cấp uỷ viên có vi phạm. Xử lý kỷ luật 32 tổ chức Đảng và 1.1 65 đảng viên (có 402 cấp ủy viên các cấp). trong đó có 236 đảng viên đã bị khai trừ. Ngoài ra còn đưa ra khỏi Đảng bằng các hình thức khác 439 đảng viên. Có 34 đảng viên bị xử lý bằng pháp luật. Trong số đảng  vên bị xử lý kỷ luật có 5,32% sa sút về phẩm chất lối sống; 11% tham ô, tham nhũng. Việc xem xét đơn thư khiếu nại kỷ luật, tố cáo cán bộ, đảng viên kịp thời hơn; công tác kiểm tra dã góp phần quan trọng vào việc nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức Đảng; chống tiêu cực trong Đảng và bộ máy Nhà nước và ổn định tình hình cơ sở.

Cuộc vận động xây dựng chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) hơn 1năm qua được quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc từ tỉnh đến cơ sở đã thu được kết quả và kinh nghiệm chỉ đạo bước đầu có báo cáo riêng). Những quy chế, thiết chế dân chủ của nhân dân nhất là ở cơ sở được ban hành và đang được thực hiện có kết quả ở các ngành, địa phương, cơ sở góp phần làm ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn tỉnh. Hệ thống chính trị tiếp tục được đổi mới.

Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân các cấp đã được kiện toàn theo hướng tinh giảm và nâng cao hiệu lực điều hành và hiệu quả công tác. Hội đồng nhân dân đã đổi mới phương pháp và nội dung tiếp xúc cử tri, nâng cao chất lượng các kỳ họp và giám sát hoạt động của các cơ quan Nhà nước, khắc phục một bước tính hình thức trong các cơ quan dân cử. Uỷ ban nhân dân đã thể chế và quản lý, điều hành công việc nhà nước tại địa phương có hiệu quả, tích luỹ thêm kính nghiệm quản lý hành chính và điều hành nền kinh tế theo cơ chế mới. Các huyện mới được tái lập nhanh chóng ổn định, kiện toàn bộ máy, hoạt động có hiệu quả.

Uỷ ban MTTQ, các đoàn thể nhân dân và các tổ, chức xã hội đã khẩn trương tiến hành Đại hội đạt kết quả tốt tiếp tục phát triển tổ chức, kết nạp thêm hội viên, đoàn viên, không ngừng đổi mới nội dung, phương thức công tác hướng về cơ sở, gắn với nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội và lợi ích thiết thực của hội viên, đoàn viên, đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước. "Toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ử khu dân cư”. "Thanh niên lập nghiệp, tuổi trẻ giữ nước", "Giữ gìn Phát huy bản chất truyền thống bộ đội Cụ Hồ"; "Phụ nữ giúp nhau phát triển kinh tế gia đình, cần kiệm xây dựng đất nước", "Ngày tiết kiệm vì phụ nữ nghèo"; "Công nhân viên chức-lao động thực hiện chương trình phục vụ nông nghiệp, lao động sáng tạo thi đua 2 giỏi" v.v..., tích cực xây dựng quỹ đền ơn đáp nghĩa; quỹ tình nghĩa ủng hộ đồng bào các tỉnh bị lũ lụt; quỹ từ thiện nhân đạo; mua công trái xây dựng bao vệ đất nước nên hoạt động càng phong phú thiết thực. Uỷ ban MTTQ, các tổ chức thành viên đã tích cực tham gia vào các hoạt động chính tả xã hội. Bầu cử dại biểu quốc hội khoá X, bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp, xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ, giải quyết những vấn đề nổi cộm ở cơ sở cuộc vận động xây dựng và chỉnh đốn Đảng. xây dựng củng cố chính quyền.

Hoạt động của khối dân vận nhìn chung có hiệu quả Uỷ ban MTTQ, các đoàn thể nhân dân, các tổ chức xã hội đã đóng góp tích cực vào việc vận động các tầng lớp nhân dân thực hiện thắng lợi các mục tiêu do Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV đề ra.

B- NHỮNG TỒN TẠI VÀ KHUYẾT ĐIỂM

- Nền kinh tế phát triển nhanh, nhưng công nghiệp địa phương quy mô nhỏ, thiết bị lạc hậu, chậm được đổi mới, tiêu thủ công nghiệp chưa khai thác hết tiềm năng, lợi thế của địa phương; chuyển dịch cơ cấu kinh tế chưa đạt mục tiêu Đại hội đề ra, sản phẩm nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tiêu thụ chậm, có thời gian ứ đọng, sản xuất vụ dông giảm. Việc ứng dụng công nghệ sinh học còn hạn chế nên năng suất, chất lượng sản phẩm thấp, giá thành cao. Công tác tài chính, ngân hàng còn nhiều tồn tại, bố trí vốn đầu tư còn dàn trải, đầu tư cho phất triển chưa tập trung cao.

- Cơ chế chính sách còn thiếu và chưa tạo động lực mạnh mẽ để phát triển. Một số ngành, địa phương chưa tập trung cao để tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, chưa đề xuất được những biện pháp thiết thực để khai thác nguồn lực dồi dào trong các thành phần kinh tế. Việc cụ thể hoá các chính sách nhìn chung còn chậm và chưa đồng bộ. Việc hoàn thiện quan hệ sản xuất chưa được quan tâm đúng mức.

- Một số vấn đề xã hội bức xúc và gay gắt chưa được giải quyết tốt. Tình trạng không có việc làm ở thị xã thị trấn và thiếu việc làm ở nông thôn đang là một trong những vấn đề bức xúc của xã hội. Công tác giáo dục đào tạo và chăm sóc sức khoẻ của nhân dân một số khâu còn nhiều phiền hà và tiêu cực. Việc đào tạo nghề cho người lao động chưa được quan tâm đúng mức. Tình hình tội phạm, tai nạn, tệ nạn xã hội chưa giảm, nhất là nạn ma tuý, số tội phạm gia tăng. Đời sống nhân dân một số nơi còn khó khăn. Khiếu kiện của nhân dân một số cơ sở kẻo dài chưa được giải quyết dứt điểm. Thu nhập bình quân đầu người thấp so với bình quân chung của cả nước và khu vực đồng bằng sông Hồng.

- Một bộ phận cán bộ yếu về năng lực, kém về đạo đức phẩm chất, sách nhiễu, phiền hà, gây trở ngại cho công việc, tệ quan liêu, tham nhũng, thiếu dân chủ ở một số nơi chậm được khắc phục gây bất bình trong xã hội. Kỷ luật, kỷ cương phép nước chưa nghiêm. Việc cụ thể hoá chủ trương "Chiêu hiền đãi sỹ" và khuyến khích cán bộ, công chức vươn lên học tập ở trình độ cao chậm được thực hiện.

- Những vấn đề tồn tại lâu ngày trong một số cấp uỷ chưa được giải quyết hoặc giải quyết chưa triệt để. Một số việc vi phạm kỷ luật Đảng, pháp luật Nhà nước xử lý chưa kịp thời. Một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa thẳng thắn trong đấu tranh tự phê bình và phê bình, tiếp thu sửa chữa khuyết điểm chưa nghiêm túc; còn có biểu hiện mất đoàn kết, kèn cựa, cá nhân chủ nghĩa.

- Việc tổng kết thực tiễn còn hạn chế nên chưa giải quyết kịp thời, những vấn đề đặt ra trong quá trình đổi mới. Chưa thực sự coi trọng đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động chính quyền, có mặt chồng chéo, có mặt buông lỏng nhất là cơ sở. Công tác chính trị tư tưởng chưa đa dạng và hấp dẫn. Công tác cán bộ thực hiện chưa đồng bộ, thiếu quy hoạch, việc giáo dục, quản lý, kiểm tra cán bộ, đảng viên nhiều nơi thiếu chặt chẽ. Việc kiểm tra các tổ chức Đảng và đảng viên có dấu hiệu vi phạm còn nhiều hạn chế. Công tác kiểm tra chưa được tiến hành một cách có nề nếp lừ cơ sở để chủ động giáo dục ngăn ngừa những vi phạm, đấu tranh chống những biểu hiện suy thoái về phẩm chất, đạo đức lối sống của cán bộ đảng viên.

C- NGUYÊN NHÂN

1- Nguyên nhân của những thành tựu, tiến bộ:

- Khách quan: Đường lối đổi mới và các nghị quyết của Đảng trong thời gian qua đã tạo được động lực cho sự ổn định và phát triển chính trị, kinh tế-xã hội của tỉnh. Được sự chỉ đạo và đầu tư kinh phí của Trung ương. Với vị trí địa lý thuận lợi, nằm ở trung tâm đồng bằng sông đồng, giáp với thủ đô Hà Nội là thị trường lớn, đất đai khá mầu mỡ, có điều kiện để phát triển nền nông nghiệp hàng hoá, tiếp nhận các dự án đầu tư trong và ngoài nước. Điều kiện thời tiết thuận lợi ít thiên tai dịch bệnh.

- Chủ quan: Đã tạo được sự thống nhất trong toàn Đảng bộ và nhân dân để phát huy lợi thế, tranh thủ thời cơ; khơi dậy được tinh thần cách mạng, đoàn kết, cần cù, sáng tạo trong nhân dân dễ tập trung xây dựng quê hương. Phát huy tinh thần đoàn kết, sáng tạo trong lao động của quần chúng dưới sự lãnh đạo của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh để phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ chính trị. Các chỉ thị, nghị quyết của cấp uỷ đã được thực tế chứng minh bốn năm qua là sát thực, có hiệu quả.

- Việc tái lập tỉnh, tái lập các huyện đáp ứng  nguyện vọng chính đáng của Đảng bộ, nhân dân trong tỉnh, tạo cho cấp uỷ, chính quyền các cấp sát cơ sở, chỉ đạo kịp thời, tạo không khí phấn khởi thi đua phát triển kinh tế-xã hội.

2- Nguyên nhân của những tồn tại, khuyết điểm:

- Khách quan: Sau khi tái lập, còn nhiều khó khăn, cơ sở vật chất kỹ thuật còn thiếu thốn, cần phải giải quyết nhiều công việc cấp bách đặt ra. Đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý và khoa học thiếu, còn ít kinh nghiệm, tài nguyên hạn chế, mật độ dân số cao.

- Chủ quan: Việc quán triệt và tổ chức thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Tỉnh uỷ ở một số ngành, địa phương chưa nghiêm túc; chỉ đạo thiếu tập trung, cải cách hành chính chuyển biến chậm, thiếu kiểm tra sâu sát. Việc phát hiện vi phạm kỷ luật Đảng, pháp luật Nhà nước đối với một số cán bộ đảng viên chưa kịp thời, xử lý kỷ luật chưa nghiêm.

 

 

D- BÀI HỌC KINH NGHIỆM

 

Phát huy những thành tựu, tiến bộ đạt được, kiên quyết khắc phục những tồn tại khuyết điểm, Đảng bộ và nhân dân Hưng Yên tự khẳng định mình, phấn khởi tự tin bước vào thế kỷ XXI. Từ thực tiễn có thể rút ra một số kinh nghiệm:

1- Quán triệt đường lối đổi mới của Đảng, xác định rõ khó khăn thuận lợi, tập hợp trí tuệ của Đảng bộ và nhân dân, Tỉnh uỷ đã có các nghị quyết, chỉ thị đúng đắn, tập trung chỉ đạo các cấp, các ngành, các địa phương phát huy nội lực, khai thác tiềm năng, lợi thế, tranh thủ các nguồn lực bên ngoài thực hiện thắng lợi những mục tiêu: Vừa phát triển nhanh công nghiệp, xây dựng khu công nghiệp, vừa phải đẩy mạnh xây dựng kết cấu hạ tầng đô thị, nông thôn vừa phải phát triển nhanh, toàn diện nông nghiệp tạo ra bước phát triển nhanh trên một số lĩnh vực quan trọng để tiến kịp các tỉnh trong khu vực.

2- Trong quá trình chỉ đạo Tỉnh uỷ đã vận dụng và thực hiện đúng quan điểm: "Phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt". Phát động phong trào xây dựng cơ sở Đảng trong sạch vững mạnh. Tập trung giải quyết cơ sở Đảng yếu kém, phát huy dân chủ trong Đảng, trong quần chúng. Khơi dậy truyền thống cách mạng của quê hương để phát triển kinh tế, củng cố hệ thống chính trị, xây dựng cơ sở vững mạnh. Giữ vững ổn định chính trị là điều kiện rất quan trọng để đảm bảo sự phát triển nhanh về kinh tế-xã hội của tỉnh.

3- Phát triển kinh tế nhanh, vững chắc đi đôi với giải quyết tốt những vấn đề văn hoá-xã hội bức xúc là yếu tố đảm bảo cho phát triển bền vững, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN để phát triển lực lượng sản xuất gắn liền với không ngừng hoàn thiện quan hệ sản xuất; chủ động hạn chế những mặt tiêu cực phát sinh trong cơ chế thị trường.

II- MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN 5 NĂM 2001 – 2005

 A- THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN

1- Thuận lợi: Chúng ta đã tích luỹ được một số kinh nghiệm lãnh đạo, chỉ đạo và điều hành qua những năm đổi mới, nhất là sau 4 năm tái lập tỉnh; đang tích cực khai thác lợi thế, tiềm năng để phát triển. Với những lợi thế rất cơ bản, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, là vành đai phát triển công nghiệp, vệ tinh của thủ đô Hà Nội, với vị trí địa lý và giao lưu thuận lợi, cơ sở hạ tầng được cải thiện rõ rệt; 3 khu công nghiệp Như Quỳnh, Phố Nối, thị xã Hưng Yên đã được hình thành. với chính sách khuyến khích, Hưng Yên là điểm thuận lợi, khá hấp dẫn các nhà đầu tư trong và ngoài nước.

Đất đai phì nhiêu, nguồn lao động dồi dào, có trình độ văn hoá, phát huy truyền thống cần cù, năng động sáng tạo, sớm có nhiều mô hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn có hiệu quả. Toàn tỉnh tập trung mở rộng diện tích cây nhãn lồng đặc sản, cây dược liệu, cây cảnh các hàng hoá khác đáp ứng nhu cầu thị trường Hà Nội và các thị trường khác đang là hướng đi quan trọng để kinh tế Hưng Yên phát triển.

2- Khó khăn: Bốn nguy cơ mà Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc đã chỉ ra, vẫn là những thách thức to lớn. Thách thức gay gắt nhất với Hưng Yên là nguy cơ tụt hậu về kinh tế. Hưng Yên là tỉnh còn khó khăn, hiện tại thu nhập bình quân đầu người còn thấp hơn mức bình quân cả nước. Một bộ phận nhân dân còn nghèo, hàng vạn người thiếu việc làm, mật độ dân số cao, lao động nông nghiệp còn nhiều, tỷ lệ lao động qua đào tạo còn thấp. Từ những thuận lợi và những khó khăn trên Đảng bộ và nhân dân Hưng Yên phải chủ động khai thác những lợi thế, đẩy lùi các nguy cơ, vượt qua những khó khăn thử thách để tiếp tục phát triển.

B- MỤC TIÊU CHUNG

Mục tiêu của nhiệm kỳ 2001 - 2005 nhằm cụ thể hoá chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 10 năm 2001 - 2010. Nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng bộ, phát huy sức mạnh tổng hợp, tranh thủ thời cơ, khắc phục những yếu kém, tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tăng trưởng kinh tế nhanh vững chắc, đi đôi với nâng cao một bước đời sống nhân dân, giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh, tạo cơ sở vững chắc để tỉnh Hưng Yên tiếp tục phát triển nhanh hơn vào giai đoạn sau.

C- MỤC TIÊU CHỦ YẾU

- Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân trên 10%/năm (nông nghiệp tăng 4 – 4,5%; công nghiệp tăng trên 20%; dịch vụ tăng 18%).

- Cơ cấu kinh tế hình thành: Nông nghiệp-công nghiệp, xây dụng-dịch vụ: 34%-30%-36% (vào năm 2005).

- Thu nhập bình quân đầu người trên 500 USD.

- Tổng kim ngạch xuất khẩu bình quân 50 triệu USD (đến năm 2005 đạt 90 triệu USD).

- Thu ngân sách bình quân 160 tỷ đồng/năm (đến năm 2005 đạt trên 200 tỷ).

- Năng suất lúa 12,5 tấn vào năm 2005. Lương thực bình quân đầu người giữ 500 kg/người. Giá trị thu được trên 1 ha canh tác đạt 37 triệu đồng vào năm 2005.  

- Tỷ lệ phát triển dân số 1,1% (ổn định trong 5 năm).

- Tạo thêm việc làm cho 1,5 vạn lao động bình quân năm.

- Tỷ lệ hộ nghèo còn 3%.

- Trên 50% làng được công nhận làng văn hoá.

- 100% xã phường phổ cập trung học cơ sở.

- Thị xã Hưng Yên và đô thị Phố Nối phổ cập trung học phổ thông trong độ tuổi.

- Trên 80% phòng học phổ thông kiên cố cao tầng.

- 100% trạm xá xã có bác sỹ, 100% số thôn có cán bộ y tế.

- Trên 75% cơ sở Đảng trong sạch vững mạnh; chính quyền, đoàn thể vững mạnh.

 

 

III- TIẾP TỤC XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG THEO ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

 

Nhằm phát triển lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội.

A- CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ THEO ĐỊNH HƯỚNG ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA

1- Phát triển nông nghiệp toàn diện theo hướng kinh tế hàng hóa là nhiệm vụ hàng đầu:

Nông nghiệp có vai trò rất quan trọng để ổn định đời sống và tạo cơ sở cho phát triển công nghiệp. Tiếp tục phát triển mạnh nông nghiệp toàn diện lên một trình độ mới, xây dựng vùng sản xuất chuyên canh, áp dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, đưa những cây con có năng suất và giá trị kinh tế cao vào sản xuất, tăng giá trị thu được trên một 1 ha canh tác.

Giải quyết tốt hơn tiêu thụ nông sản, phát triển ngành nghề đa dạng, chuyển một bộ phận lao động nông nghiệp sang sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, kinh doanh dịch vụ, tạo thêm việc làm. Cơ cấu trong nông nghiệp: Cây lương thực 35%, rau quả cây công nghiệp 29%, chăn nuôi 36%.

Tận dụng diện tích ao hồ, chuyển một bộ phận đất trũng trồng lúa năng suất thấp sang thâm canh nuôi cá, trồng cây ăn quả. Mở rộng diện tích nhãn, vải trên 1 vạn ha với giống đã được chọn lọc. Có biện pháp tích cực để nâng cao hiệu quả đất bãi để trồng cây công nghiệp, dược liệu, cung cấp rau có giá trị kinh tế cao cho thị trường Hà Nội.

Tăng nhanh tốc độ và hiệu quả chăn nuôi theo hướng phát triển chăn nuôi công nghiệp. Chương trình: "Nạc hoá đàn lợn", "sind hoá đàn bò" phải được các cấp, các ngành, các địa phương chỉ đạo tích cực để nâng cao chất lượng, hiệu quả chăn nuôi.

Đầu tư tập trung cho Trung tâm giống lúa cùng các cơ sở vệ tinh đảm bảo năm 2005 cung cấp 70% giống lúa tiến bộ cho nông dân trong tỉnh, Trung tâm truyền tinh, Trung tâm thuỷ sản vừa đảm bảo tạo giống tốt vừa phải chuyển giao kỹ thuật đến các hộ chăn nuôi.

Đẩy mạnh công tác khuyến nông, thường xuyên tập huấn kỹ thuật giúp các hộ nông dân áp dụng thành thục các biện pháp thâm canh tiến bộ nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hạ giá thành, nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp. Cấp uỷ và chính quyền các cấp cần khuyến khích, hướng dẫn cho hộ nông dân thực hiện tích cực hơn, nhân rộng mô hình chuyển đổi, dồn thửa ruộng đất.

Tiếp tục làm chuyển biến về nhận thức, đồng thời nâng cao hiệu quả kinh tế đối với sản xuất vụ đông bằng các công thức luân canh, thâm canh thích hợp, phát triển có quy hoạch, đảm bảo nước tưới, tích cực tổ chức thực hiện để vụ đông thực sự là vụ sản xuất chính làm giầu cho kinh tế hộ, phấn đấu đưa diện tích cây vụ đông từ 22% tên 45% vào năm 2005.

2 - Phát triển nhanh công nghiệp là nhiệm vụ trung tâm:

Tăng tích luỹ, tranh thủ mọi nguồn vốn, mọi thành phần kinh tế để đầu tư phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp. Trước mắt đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn; đưa nhanh điện và thông tin liên lạc phục vụ cho sản xuất và đời sống. Nâng cao chất lượng thuỷ lợi đẩy mạnh kiên cố hoá kênh mương. Đầu tư phát triển mạng lưới công nghiệp, dịch vụ và kết cấu hạ tầng ở nông thôn, phát triển nghề mới, khôi phục nghề truyền thống. Thực hiện cơ giới hoá, điện khí hoá. hoá học hoá đi đôi với bảo vệ môi trường. Phấn đấu khâu làm đất bằng cơ giới 90%, phòng trừ sâu bệnh 100% vận chuyển nông thôn 85%, cơ giới hoá khâu nặng nhọc trong sản xuất tiểu thủ công nghiệp.

Tích cực tìm kiếm, khai thác thị trường, hướng dẫn, chuyển giao công nghệ để khuyến khích các hộ, các thành phần kinh tế vào chế biến lương thực, thực phẩm, rau quả, chế biến thức ăn cho chăn nuôi công nghiệp.

Công nghiệp: Tập trung nâng cao hiệu quả những cơ sở công nghiệp hiện có, đầu tư mở rộng qui mô, đổi mới thiết bị công nghệ với những cơ sở có hiệu quả, nâng cao chất lượng, sức cạnh tranh cua sản phẩm, chuẩn bị một bước cho hội nhập kinh tế khu vực. Chuyển đổi hoặc giải thể những doanh nghiệp, tổ chức kinh tế thua lỗ kéo dài.

Căn cứ vào nhu cầu thị trường 10 năm tới xây dựng mới một số xí nghiệp giầy, may xuất khẩu, vật liệu xây dựng, chế biến thịt cấp đông, phát triển mới cơ sở sản xuất công nghiệp ở huyện lỵ để thực hiện phân công lại lao động trên địa bàn.

Tiếp tục hoàn thiện cơ chế chính sách, cải tiến thủ tục hành chính, làm tốt công tác giải phóng mặt bằng, hoàn thành nhanh các đường trong khu công nghiệp, đầu tư bằng tiền thuê đất trở lại cho địa phương dành đất phát triển công nghiệp để thu hút nhiều dự án vào ba khu công nghiệp, ưu tiên phát triển những mặt hàng kỹ nghệ cao: Điện tử, điện lạnh, lắp ráp xe máy, công nghiệp cơ khí phục vụ nông nghiệp, hàng xuất khẩu, hàng tiêu dùng, khuyến khích dự án thu hút nhiều lao động.

3- Phát triển kết cấu hạ tầng:

Tập trung cao độ khai thác mọi nguồn lực cho phát triển kết cấu hạ tầng bao gồm: Mạng lưới giao thông, điện, nước, thông tin liên lạc và các công trình hạ tầng xã hội khác.

Về giao thông: Phối hợp với các bộ ngành Trung ương đẩy nhanh tiến độ thi công quốc lộ 39, 38, các dự án đường gom, cầu vượt đường ngang nhằm nâng cao hiệu quả khai thác quốc lộ 5 cơ bản hoàn thành vào năm 2002, khởi công cầu Yên Lệnh vào năm 2001, hoàn thành vào năm 2004, phối hợp làm tốt công tác giải phóng mặt bằng.

Nâng cấp đạt tiêu chuẩn đường cấp 4 đồng bằng 100% các tuyến tỉnh lộ bao gồm cả đê sông Hồng. 70% các tuyến huyện lộ được nhựa hoá. Đẩy mạnh phong trào làm đường giao thông nông thôn. Hoàn thành dự án giao thông nông thôn (WB2), bến xe, cảng sông Luộc, sông Hồng.

Về thuỷ lợi: Quy hoạch bổ sung hệ thống thuỷ lợi toàn tỉnh cải tạo nâng cấp trạm bơm hiện có. Xây mới theo quy hoạch trạm bơm tiêu, tưới bãi. Kiên cố hoá 50% kênh mương nội đồng. Tăng cường hệ thống đê, kè, hoàn thành trồng tre chắn sóng.

Về điện: Phấn đấu chủ động cung cấp đủ nguồn cho phát triển công nghiệp và nhu cầu dân sinh, hoàn thành 4 trạm biến áp: Phố Nối, Kim Động, thị xã Hưng Yên, Như Quỳnh; xây mới 146 trạm biến thế (37.500KVA); 77 km đường dây 110 KV gồm các tuyến Phố Nối - Sài Đồng, Phố Nối - Kim Động, Kim Động - thị xã Hưng Yên, thị xã Hưng Yên - Phố Cao. Phát triển mạng lưới điện nông thôn.

Về bưu chính viễn thông: Tiếp tục mở rộng dung lượng cho 26 tổng đài đã có. Phấn đấu hết năm 2002, 100% số thôn có điện thoại. Xây dựng cáp quang nội tỉnh, nâng cao độ an toàn thông tin viễn thông, lắp đặt thêm BTS mở rộng vùng phủ cho điện thoại di động, mở rộng, phát triển dịch vụ Internet, thanh toán qua bưu điện, đến năm 2002, 100% số xã có bưu điện phục vụ, phấn đấu 100 dân có 3 máy điện thoại.

Nâng cấp Bệnh viện đa khoa tỉnh, Đông y; xây mới Bệnh viện lao và bệnh phổi. Nhà máy nước Phố Nối, một số huyện lỵ, cơ bản đáp ứng nhu cầu về cơ sở vật chất thiết yếu cho văn hoá, thể dục thể thao, phát thanh truyền hình. Hoàn thành trụ sở làm việc cho các cơ quan tỉnh và huyện còn lại, quy hoạch xây dựng khu chung cư cho thị xã Hưng Yên, đô thị Phố Nối bằng nhiều nguồn vốn.

4- Phát triển các ngành kinh tế dịch vụ:

Phát triển mạnh các ngành dịch vụ, thương mại, du lịch, bưu chính viễn thông, Internet, tài chính, ngân hàng, nghiệp vụ kiểm toán, bảo hiểm, chuyển giao công nghệ, tư vấn pháp lý, thông tin thị trường phù hợp với cơ cấu phương thức hoạt động quản lý của nền kinh tế thị trường trong tỉnh. Phát triển mạng lưới đô thị nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội nhanh theo hướng hiện đại hoá, trọng tâm là thị xã Hưng Yên, đô thị Phố Nối, các khu công nghiệp, thị trấn, thị tứ, tăng cường công tác quản lý đô thị theo qui hoạch, nâng cấp khai thác các khu di tích văn hoá lịch sử, thu hút khách tham quan du lịch. Khuyến khích huy động nhiều nguồn vốn để nâng đầu tư, khai thác tuyến du lịch ven thủ đô Hà Nội bằng nhiều hình thức du lịch sinh thái, lễ hội phục vụ ngày nghỉ cuối tuần ở Văn Lâm, Văn Giang, Khoái Châu. Có cơ chế thuận lợi để các thành phần kinh tế đầu tư vào khách sạn, nhà hàng, khu vui chơi thể thao văn hoá. Củng cố, phát triển hệ thống dịch vụ, liên kết tổ chức các tua du lịch trong và ngoài nước, phục vụ nhu cầu ngày càng tăng của nhân dân; liên doanh xây dựng thêm khách sạn tại thị xã Hưng Yên, đô thị Phố Nối với quy mô phù hợp.

5- Mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại:

 Ra sức khai thác nội lực bản thân và tranh thủ nguồn lực bên ngoài để mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại. Đẩy mạnh xuất khẩu, coi xuất khẩu được ưu tiên hàng đầu, tăng nhanh mặt hàng xuất khẩu, nhất là mặt hàng xuất khẩu chủ lực thuộc mọi thành phần kinh tế như: gạo, thịt lợn, hàng điện tử, hàng dệt may, thủ công mỹ nghệ, phụ tùng ô tô xe máy và một số mặt hàng nông sản chế biến khác. Cần có qui hoạch để phát triển các mặt hàng xuất khẩu tập trung có lợi thế. Có cơ chế chính sách thuận lợi, tranh thủ cơ hội thu hút các dự án đầu tư trực tiếp của nước ngoài, tỉnh ngoài đầu tư vào 3 khu công nghiệp, ưu tiên các dự án sản xuất hàng xuất khẩu, công nghiệp chế biến, công nghệ cao, khuyến khích các dự án hiện có, đầu tư mở rộng, thu hút thêm vốn đầu tư dạt 300 triệu USD vào năm 2005. Cần tranh thủ để thu hút các nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), bố trí vốn đối ứng để thu hút nhanh các nguồn vốn từ các chương trình quốc gia, thông qua các dự án phát triển giao thông nông thôn; tranh thủ các nguồn vốn tài trợ của các tổ chức quốc tế đầu tư vào tỉnh, sử dụng các nguồn vốn có hiệu quả cho đầu tư phát triển.

B- XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN ĐỒNG BỘ

VÀ LÀNH MẠNH HOÁ THỊ TRƯỜNG

Tiếp tục tạo lập đồng bộ các yếu tố của kinh tế thị trường, tăng cường vai trò quản lý kinh tế của Nhà nước, thúc đẩy sự hình thành, phát triển và từng bước hoàn thiện các loại thị trường, theo định hướng XHCN.

Phát triển thị trường hàng hoá và dịch vụ, phát huy vai trò nòng cốt, định hướng và điều tiết của kinh tế Nhà nước trên thị trường. Đáp ứng nhu cầu đa dạng của thị trường trong nước cả đô thị, nông thôn, chú ý thị trường vùng có nhiều khó khăn, mở rộng thêm thị trường với nước ngoài, tỉnh ngoài.

Mở rộng thị trường lao động trong nước có sự giám sát của Nhà nước, đẩy mạnh xuất khẩu lao động có tổ chức và có hiệu quả, tạo điều kiện thuận lợi và khuyến khích người lao động tự tìm việc làm, nâng cao trình độ, đào tạo lại học nghề mới; khẩn trương tổ chức thị trường khoa học - công nghệ, đẩy mạnh phát triển các dịch vụ về thông tin, chuyển giao công nghệ, tiếp thị tư vấn, tài chính, kiểm toán, bảo hiểm, phát triển nhanh các loại thị trường vốn, nhất là vốn dài hạn và trung han, chủ động tổ chức phát triển thị trường bất động sản. Nhà nước cao quyền sử dụng dài hạn cho người sản xuất kinh doanh và cho phép chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên thị trường theo qui định của pháp luật. Phấn đấu trong khoảng 5 năm hình thành tương đối đồng bộ cơ chế quản lý nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhằm tháo gỡ vướng mắc cản trở sự phát triển.

               C- ĐỔI MỚI CƠ CHẾ THU HÚT

CÁC NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ VÀ CƠ CẤU ĐẦU TƯ

Ra sức khai thác, phát huy nội lực và tranh thủ nguồn lực từ bên ngoài để thu hút các nguồn vốn đầu tư, kết hợp nội lực và ngoại lực thành nguồn lực tổng hợp. Đổi mới các chính sách và thể chế kinh tế để phát huy cao nhất các nguồn nội lực, trước hết là nguồn lao động và nguồn vốn trong dân. Có chính sách cơ chế để thu hút mạnh hơn và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI) sử dụng tốt vốn hỗ trợ chính thức (ODA) để xây dựng kết cấu hạ tầng, phát triển giáo dục, y tế, thu hút sự tham gia đóng góp của người Hưng Yên định cư ở nước ngoài hoạt động sản xuất kinh doanh ở tỉnh ngoài. Có qui hoạch và chính sách đưa cán bộ trẻ, có khả năng phát triển đi đào tạo trình độ cao ở trong nước và nước ngoài.

Tiếp tục đổi mới cơ cấu đầu tư, tăng tỷ trọng đầu tư và thúc đẩy nhanh hơn công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn; ưu tiên đầu tư cho nông nghiệp, đầu tư đổi mới thiết bị công nghệ, tiếp tục đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng tạo môi trường thuận lợi thu hút vốn và phát triển kinh tế xã hội, ưu tiên đầu tư cho các vùng kinh tế có khả năng phát triển nhanh như thị xã, đô thị Phố Nối, các khu công nghiệp, các thị trấn, huyện lỵ, để tạo động lực thúc đẩy kinh tế của tỉnh phát triển, cần chú ý đến đầu tư hỗ trợ các xã khó khăn, vùng có khó khăn để vươn lên.

D- PHÁT TRIỂN CÁC THÀNH PHẦN KINH TẾ VÀ CÁC HÌNH THỨC KINH TẾ

Phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, đan xen hỗn hợp nhiều loại hình sở hữu và đa dạng về hình thức tổ chức kinh doanh.

1- Kinh tế nhà nước:

Tiếp tục thực hiện nhất quán chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, các thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh, trong đó kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế Nhà nước, cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng.

Nhà nước cần đầu tư 100% vốn hoặc có cổ phần chi phối tập trung vào một số lĩnh vực then chốt, địa bàn quan trọng. Thực hiện cổ phần hoá một số doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp còn lại cần được khẩn trương cải thiện tình hình tài chính và lao động để sản xuất kinh doanh có hiệu quả. Đổi mới phương thức đầu tư vốn cho các doanh nghiệp thông qua các công ty đầu tư tài chính của Nhà nước và thông qua thị trường vốn. Doanh nghiệp nhà nước tự chịu trách nhiệm về quỹ lương, thưởng và phúc lợi tập thể trên cơ sở hoạch toán trung thực. Các cơ quan Nhà nước kiểm soát doanh nghiệp thông qua cơ chế, không làm ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp, thực hiện tốt qui chế dân chủ trong doanh nghiệp nhà nước.

2- Đổi mới kinh tế hợp tác:

Khuyến khích, hỗ trợ phát triển mạnh kinh tế hợp tác đa dạng theo nguyên tắc tự nguyện; khuyến khích các hợp tác xã liên kết rộng rãi với các hộ, các doanh nghiệp, không giới hạn qui mô, lĩnh vực, địa bàn. Phát triển hợp tác xã kinh doanh tổng hợp nhiều khâu hoặc chuyên ngành để kinh doanh dịch vụ về sản xuất, chế biến, tiêu thụ và tín dụng đầu tư nhân rộng mô hình hợp tác xã: Liên kết nông nghiệp và công nghiệp, phát triển kinh tế trang trại của các thành phần kinh tế, hướng dẫn thành lập theo nguyên tắc tự nguyện. Các cấp, các ngành có kế hoạch cụ thể giúp các HTX đào tạo cán bộ, xây dựng phương án sản xuất kinh doanh, mở rộng thị trường, giải quyết nợ tồn đọng. Tiếp tục chuyển đổi hoạt động của các HTX theo đúng luật, hoạt động có hiệu quả.

3- Kinh tế cá thể và tiểu chủ:

Kinh tế cá thể, tiểu chủ cần được Nhà nước tạo điều kiện và giúp đỡ để phát triển được nhiều hình thức đa dạng, làm vệ tinh cho kinh tế nhà nước hoặc phát triển thành tổ chức kinh doanh tư nhân dưới dạng vừa và nhỏ năng động và có hiệu quả kinh tế.

4- Các thành phần kinh tế khác:

Khuyến khích phát triển kinh tế tư bản tư nhân, phát triển mạnh trên những định hướng ưu tiên của Nhà nước. Phát triển kinh tế tư bản Nhà nước dưới các hình thức liên doanh, liên kết kinh tế trên cơ sở tự nguyện và cùng có lợi.

Khuyến khích và tạo điều kiện để các nhà đầu tư nước ngoài, tỉnh ngoài đầu tư kinh doanh vào tỉnh.

Đ- ĐỔI MỚI CƠ CHẾ QUẢN LÝ KINH TẾ

         Tiếp tục đổi mới công tác kế hoạch hoá, kết hợp chặt chẽ thị trường với kế hoạch, nâng cao chất lượng công tác xây dựng chiến lược, quy hoạch và kế hoạch kinh tế, đảm bảo những cân đối lớn của địa phương. Tăng cường công tác thông tin kinh tế xã hội, báo cáo và kiểm tra tình hình thực hiện ở các cấp, các ngành và doanh nghiệp. Nâng cao hiệu quả hoạt động tài chính, phân cấp đi đôi với nâng cao trách nhiệm của chính quyền cấp huyện, thị và cơ sở trong việc thu và chi ngân sách địa phương. Tăng cường phát triển nguồn thu theo tốc độ tăng trưởng kinh tế và hiệu quả quản lý, thu đúng, thu đủ. Tăng thêm ngân sách cho các mục tiêu xã hội. Tập trung vốn cho các công trình trọng điểm, hỗ trợ có hiệu quả các xã khó khăn. Nâng cao hiệu quả đầu tư vốn ngân sách, xoá bỏ bao cấp, thông qua các công ty đầu tư và thông qua tín dụng đầu tư. Tăng cường quản lý đầu tư xây dựng cơ bản. Tiếp tục đổi mới hệ thống ngân hàng, hệ thống ngân hàng thương mại đủ sức cạnh tranh trên thị trường huy động được nhiều nguồn vốn cho vay có hiệu quả phục vụ kịp thời cho sản xuất kinh doanh. Nâng cao chất lượng giám sát của ngân hàng Nhà nước, công tác kiểm tra nội bộ của các ngân hàng thương mại.

IV- CHĂM LO LĨNH VỰC

XÃ HỘI, VĂN HOÁ, XÂY DỰNG CON NGUỜI

Đẩy mạnh công tác xã hội hoá các hoạt động xã hội, tạo điều kiện cho mỗi người được nâng cao chất lượng cuộc sống: đủ ăn, được học hành, chăm sóc sức khoẻ, hưởng thụ văn hoá tốt hơn, xây dựng quan hệ xã hội, công bằng, dân chủ, văn minh. Kiên quyết đấu tranh chống tội phạm và bài trừ tệ nạn xã hội.

1- Tạo việc làm cho thêm 7,5 vạn lao động, khuyến khích mọi người tự tạo việc làm tập trung phát triển kinh tế xã hội, chuyển dịch nhanh hơn cơ cấu kinh tế, khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển tạo nhiều việc làm tại chỗ gắn với phân công lại lao động giữa các ngành, các vùng phát triển công nghiệp, tiểu thủ công, làng nghề, các ngành kinh tế dịch vụ, có công ty đủ tư cách pháp nhân đẩy mạnh xuất khẩu lao động, xây dựng vùng kinh tế mới, mở rộng các hình thức dạy nghề đi đôi với giới thiệu việc làm. Đến năm 2005 lao động nông nghiệp còn 65%, lao động qua đào tạo đạt 33%.

2- Thực hiện tốt chính sách xã hội, phát động rộng rãi toàn dân chăm sóc thương binh, gia đình liệt sỹ, gia đình chính sách, những người có công. Đảm bảo cho gia đình những người có công với đất nước ít nhất bằng mức sống trung bình nơi cư trú. Xây dựng quỹ hỗ trợ người nghèo bằng nhiều nguồn vốn. Đến năm 2002 các gia đình chính sách đều có nhà xây mái ngói. Xây dựng quỹ tình nghĩa giúp đỡ người già neo đơn, nạn nhân chiến tranh, các cháu có hoàn cảnh khó khăn đặc biệt, giúp đỡ học sinh nghèo vượt khó. Có nhiều biện pháp sát thực giảm hộ nghèo xuống còn khoảng 3%. Tăng thêm đầu tư cho các xã khó khăn, mở rộng hoạt động của ngân hàng phục vụ người nghèo. Nhà nước, các đoàn thể nhân dân, các tổ chức xã hội, tạo các nguồn vốn cho vay để sản xuất.

3- Phát triển sự nghiệp giáo dục-đào tạo và khoa học-công nghệ:

a) Giáo dục-đào tạo: Phải tạo nền tảng cho mọi công dân phát triển toàn diện nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho sự nghiệp công nghiệp hoá  hiện đại hoá. Coi trọng cả quy mô, chất lượng và hiệu quả ở mọi cấp học, ngành học. Đảm bảo trên 95% trẻ 5 tuổi vào lớp mẫu giáo, phổ cập tiểu học vững chắc, phổ cập trung học cơ sở 100% xã, thị xã Hưng Yên và đô thị Phố Nối phổ cập THPT trong độ tuổi; phát triển các hình thức dạy nghề, truyền nghề. Đa dạng hoá các loại hình trường lớp, khuyến khích hỗ trợ phát triển trường dân lập, tư thục theo quy định của Nhà nước. Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú ý giáo dục công dân, pháp luật, ngoại ngữ, tin học, coi trọng đầu tư bồi dưỡng nhân tài. Cùng với các Bộ, ngành Trung ương tiến hành thành lập từ 1 đến 2 trường Đại học trên địa bàn. Chăm lo đầu tư Trường cao đẳng sư phạm, Năng khiếu. Thu hút đầu tư cả cộng đồng, các chương trình quốc gia, ngoài nước cho giáo dục đào tạo.

b) Khoa học – công nghệ

Đưa nhanh tiến hộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất kinh doanh, chú trọng nhân giống cây trồng vật nuôi. Khuyến khích đổi mới thiết bị công nghệ trong các cơ sở sản xuất; tăng đầu tư khoa học, công nghệ và môi trường bằng nguồn ngân sách và nguồn vốn của các doanh nghiệp.

Đào tạo và sử dụng có hiệu quả đội ngũ cán bộ kỹ thuật, công nhân lành nghề. Có kế hoạch đào tạo cán bộ khoa học đầu đàn ở các ngành. Từng bước thực hiện đấu thầu đề tài khoa học, gắn cán bộ khoa học với kết quả nghiên cứu của họ bằng lợi ích thoả đáng. Khuyến khích mạnh cán bộ khoa học và công nghệ công tác ở nông thôn. Tăng cường trang thiết bị hiện đại trong các lĩnh vực nghiên cứu ứng dụng, đo lường và kiểm tra chất lượng.

 4- Văn hoá thông tin:

Duy trì và phát triển nền văn hoá tiên tiên đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, tự hào về truyền thống văn hiến và cách mạng của quê hương.

Nâng cao mức hưởng thụ văn hoá cho nhân dân. Thực hiện nếp sống theo kỷ cương và pháp luật, khắc phục tệ nạn xã hội, mê tín dị đoan. Vận động toàn dân xây dựng gia đình văn hoá, làng văn hoá, đạt mục tiêu trên 50% được công nhận là làng văn hoá. Tăng cường quản lý nhà nước đối với cơ sở dịch vụ văn hoá, kinh doanh văn hoá phẩm, ngăn ngừa văn hoá phẩm ngoài luồng.

Khuyến khích văn nghệ sỹ phát huy tài năng để sáng tác được nhiều tác phẩm có giá trị cả nội dung và hình thức, phản ánh sinh động những điển hình trong lao động, học tập, xây dựng quê hương đất nước, nêu gương người tốt việc tốt. Tăng thêm đầu tư cho quỹ sáng tác, hỗ trợ tài năng, đầu tư cơ sở vật chất thoả đáng cho hoạt động văn hoá nghệ thuật.

Không ngừng nâng cao chất lượng chính trị, văn hoá, khoa học và nghiệp vụ của báo chí, phát thanh, truyền thanh, truyền hình; đồng thời đẩy nhanh quá trình hiện đại hoá và cập nhật thông tin đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân dân.

5- Chăm lo bồi dưỡng thể chất cho nhân dân: Công tác y tế, dân số kế hoạch hoá gia đình, thể dục thể thao:

Chăm lo bồi dưỡng thể chất cho nhân dân, phấn đấu giảm đáng kể tình trạng suy dinh dưỡng trẻ em đến năm 2005 còn 25%, làm tốt công tác tiêm chủng mở rộng, ngăn chặn tốc độ lây lan HIV, bảo vệ sức khoẻ bà mẹ trẻ em, bảo vệ chăm sóc trẻ em, nâng cao tuổi thọ bình quân, cải thiện các chỉ tiêu cơ bản về thể chất cho con người.

Tăng cường cơ sở vật chất cho ngành y tế phục vụ tốt hơn công tác phòng, khám, chữa bệnh cho nhân dân. Chủ động phòng ngừa không để dịch bệnh lớn xảy ra. Hoàn thành nâng cấp Bệnh viện đa khoa tỉnh 400 giường, một số bệnh viện huyện, tăng cường cho y tế cơ sở. Hoàn thành xây dựng Bệnh viện y học dân tộc, Bệnh viện lao và bệnh phổi. Bệnh viện đa khoa khu vực Phố Nối, mua sổ bảo hiểm y tế cho các đối tượng chính sách, người nghèo, người tàn tật, người cô đơn. Khuyến khích phát triển đi đôi với quản lý tốt dịch vụ y dược tư nhân; ngăn chặn và đẩy lùi các hiện tượng tiêu cực trong khám và chữa bệnh, tăng cường giáo dục y đức cho đội ngũ công chức, viên chức ngành Y tế.

Công tác dân số kế hoạch hoá gia đình hướng vào mục tiêu thực hiện một cặp vợ chồng chỉ có 1 hoặc 2 con. Tỷ lệ phát triển dân số 1,1% (ổn định 5 năm), chăm sóc tốt hơn bà mẹ trẻ em, nâng cao chất lượng dân số.

Đẩy mạnh phong trào thể dục thể thao quần chúng, nâng cao chất lượng giáo dục thể chất trong các trường học, phấn đấu 3 môn thể thao thành tích cao đạt huy chương quốc gia. Xây dựng khu thể thao trung tâm tỉnh, mỗi xã có 1 sân vận động, mỗi huyện 1 nhà luyện tập và thi đấu, 1 sân vận động.

Phấn đấu trên 97% số hộ được dùng nước sạch.

 

 

V- TĂNG CƯỜNG AN NINH QUỐC PHÒNG,

 

BẢO ĐẢM TRẬT TỰ AN TOÀN XÃ HỘI

Giữ vững ổn định chính trị, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ của kẻ thù, sẵn sàng chiến đấu và ứng phó thắng lợi với mọi tình huống có thể xảy ra. Xây dựng thế trận an ninh nhân dân gắn với thế trận quốc phòng toàn dân, kết hợp chặt chẽ với phát triển kinh tế, tập dượt và hoàn chỉnh các phương án phối hợp chiến đấu.

Làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ, nắm chắc tình hình, phát hiện kịp thời giải quyết tại chỗ những mâu thuẫn trong nhân dân, không để kẻ xấu lợi dụng kích động, củng cố trung đội dân quân thường trực, bổ sung lực lượng công an viên tại xã, thị trấn; ngăn chặn tội phạm, bảo đảm trật tự an toàn xã hội.

Xây dựng lực lượng quân đội nhân dân, công an nhân dân trên địa bàn vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao; tăng cường sự lãnh đạo trực tiếp của cấp uỷ, sự quản lý của Nhà nước và phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong sự nghiệp quốc phòng an ninh.

VI- NÂNG CAO HIỆU LỰC HIỆU QUẢ

QUẢN LÝ, ĐIỀU HÀNH CỦA CHÍNH QUYỀN CÁC CẤP

1- Đẩy mạnh cải cách hành chính:

Tăng cường sự chỉ đạo thống nhất, thông suốt từ tỉnh đến cơ sở, quy định rành mạch trách nhiệm quyền hạn của các cấp, các ngành, mối quan hệ giữa các cấp chính quyền với công dân. Sắp xếp tổ chức bộ máy theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 7 (khoá VIII) bảo đảm tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, xây dựng đội ngũ công chức nhà nước có đạo đức, thành thạo nghề nghiệp tận tâm trong công việc. Bộ máy chính quyền hoạt động theo quy chế nề nếp, thủ tục hành chính đơn giản, trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật đảm bảo cho hoạt động hành chính nhanh nhạy phục vụ tốt công dân.

Đổi mới phương pháp xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật để nâng cao chất lượng và tính thống nhất trong chỉ đạo điều hành, rà soát và kiên quyết bãi bỏ những văn bản không còn phù hợp, gây khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Tăng cường công tác giám sát kiểm tra cơ quan, công chức nhà nước thừa hành công vụ. Nâng cao kỷ luật chấp hành các văn bản pháp quy; xử lý nghiêm những vi phạm pháp luật và kỷ luật hành chính.

2- Xây dựng đội ngũ cán bộ công chức:

Nâng cao chất lượng công tác quy hoạch đào tạo sử dụng đội ngũ cán bộ công chức, có hình thức tuyển chọn phù hợp, thực hiện kế hoạch trẻ hoá, nâng cao trình độ cán bộ đương chức, đánh giá sử dụng đúng cán bộ để phát huy được năng lực chuyên môn trong bộ máy chính quyền các cấp. Thực hiện tinh giảm tổ chức và biên chế bộ máy hành chính phù hợp. Thực hiện tốt công tác đào tạo, đào tạo lại đội ngũ cán bộ công chức hiện có, phấn đấu đến năm 2005 cán bộ công chức cấp tỉnh 73% đến 80% đại học, 5% - 10% sau đại học; cấp huyện 60% có trình độ đại học trở lên; 100% cán bộ chính quyền cơ sở được bồi dưỡng chương trình quản lý Nhà nước.

3- Đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước:

Tiếp tục cải tiến và thực hiện nghiêm minh chế độ khen thưởng, kỷ luật. Đổi mới nội dung và chỉ đạo phong trào thi đua khen thưởng, để công tác thi đua khen thưởng thực sự là động lực phát triển kinh tế-xã hội.

4- Tiếp tục đổi mới phương thức hoạt động của HĐND các cấp:

Nâng cao chất lượng hoạt động giám sát, cải tiến phương thức tiếp xúc cử tri, đổi mới nâng cao chất lượng nội dung kỳ họp, tăng cường giám sát việc thực hiện Nghị quyết kỳ họp HĐND: Kiện toàn bộ máy cán bộ chuyên trách HĐND đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.

5- Đổi mới thể chế và thủ tục hành chính đối với các hoạt động kinh tế.

Nâng cao chất lượng hiệu lực, hiệu quả chỉ đạo điều hành tổ chức thực hiện của UBND các cấp. Tăng cường kỷ cương kỷ luật đối với các cấp, các ngành có ý nghĩa quan trọng để thực hiện thắng lợi các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước. Tăng cường đi sát cơ sở để chỉ đạo giải quyết kịp thời những khó khăn vướng mắc. Đẩy mạnh thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở. Thực hiện nghiêm luật khiếu nại tố cáo của công dân, giải quyết cơ bản những vụ việc tồn đọng, xử lý kịp thời các vấn đề mới phát sinh. Tăng cường kỷ cương, ngăn chặn tệ quan liêu sách nhiễu, tham nhũng trong một bộ phận công chức, thực hiện nghiêm pháp lệnh công chức và chế độ công vụ. Phấn đấu đến năm 2005 có 80% đơn vị cơ sở đạt tiêu chuẩn vững mạnh, không còn đơn vị yếu kém.

VII- NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG

CỦA MẶT TRẬN VÀ CÁC ĐOÀN THỂ NHÂN DÂN

Nâng cao nhận thức về công tác dân vận đối với cấp uỷ chính quyền, mặt trận, đoàn thể các cấp, thấu suốt quan điểm, đường lối của Đảng về công tác dân vận trong tình hình mới, thấm nhuần tư tưởng lời dạy của Bác Hồ về dân vận.

Nhanh chóng củng cố và tăng cường bộ máy tổ chức dân vận từ tỉnh đến cơ sở theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 7 (khoá VIII) để đủ sức làm tròn vai trò tham mưu cho cấp uỷ về công tác vận động quần chúng.

Tiếp tục đổi mới phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân, khắc phục tình trạng hành chính hoá, quan liêu; hướng về cơ sở nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác vận động quần chúng. Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể phải làm tốt vai trò kiểm tra, giám sát việc thực hiện quy chế dân chủ ở tất cả các loại hình cơ sở. Vận động khuyến khích nhân dân phát huy quyền dân chủ trực tiếp, thực hiện tốt quyền dân chủ đại diện. Gắn việc thực hiện tốt quy chế dân chủ với cuộc vận động xây dựng chỉnh đốn Đảng và cải cách hành chính.

Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức thành viên phải thực sự là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, có vai trò quan trọng tham gia vào chủ trương, chính sách của cấp uỷ chính quyền về những vấn đề liên quan đến quyền và trách nhiệm công dân. Thực hiện sự giám sát của nhân dân đối với hoạt động của cơ quan Nhà nước ở địa phương, hoạt động, lối sống của cán bộ đảng viên, công chức, tham gia giải quyết những mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân.

Thực hiện tốt đường lối, chính sách về tôn giáo của Đảng và Nhà nước. Phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân, triển khai thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ các cấp.

VIII- NÂNG CAO NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO

VÀ SỨC CHIẾN ĐẤU CỦA ĐẢNG BỘ

Nhiệm vụ quan trọng có ý nghĩa quyết định là phải tiếp tục xây dựng Đảng bộ vững mạnh trên cả ba mặt: Chính trị, tư tưởng và tổ chức. Phát huy bản chất giai cấp công nhân, tính tiên phong của Đảng, nâng cao trình độ, kiến thức, năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức Đảng và đội ngũ đảng viên, khắc phục những mặt yếu kém, ngăn chặn đẩy lùi các biểu hiện suy thoái, tăng cường đoàn kết nhất trí để lãnh đạo nhân dân Hưng Yên tiếp tục thực hiện đường lối đổi mới của Đảng đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá xây dựng Hưng Yên thành tỉnh giầu mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

 Công tác xây dựng Đảng cần tập trung vào năm vấn đề chủ yếu:

1- Tăng cường xây dựng Đảng về chính trị và tư tưởng, đảm bảo sự thống nhất ý chí và hành động của toàn Đảng bộ; nâng cao kiến thức, năng lực lãnh đạo, rèn luyện đạo đức và lối sống cách mạng của đôi ngũ cán bộ đảng viên.

Bồi dưỡng nâng cao nhận thức của cán bộ đảng viên, tạo sự thống nhất cao trong Đảng về lý tưởng, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, về nền tảng tư tưởng của Đảng. Mỗi cán bộ đảng viên phải không ngừng học tập chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quán triệt các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước là nghĩa vụ bắt buộc. Hàng năm có kế hoạch đào tạo bồi dưỡng theo chương trình cụ thể phù hợp với từng loại đối tượng. Phải có những biện pháp tích cực để nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, đảng viên.

Các cấp uỷ và tổ chức Đảng nắm vững và chủ động làm tốt công tác tư tưởng trong nội bộ Đảng và trong nhân dân; đấu tranh với những khuynh hướng tư tưởng sai trái và âm mưu phá hoại của các thế lực thù địch. Mở rộng các hình thức giáo dục truyền thống trong Đảng và trong nhân dân. Duy trì chế độ thông tin, thời sự, chính sách hàng tháng đến đảng bộ, chi bộ. Tiếp tục đổi mới công tác tư tưởng nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả theo hướng chuyển mạnh về cơ sở, bám sát thực tiễn, tham gia tổng kết và nhân rộng các điển hình tiên tiến, mở rộng dân chủ, tăng cường tiếp xúc đối thoại với cán bộ, đảng viên và nhân dân.

2- Tăng cường công tác xây dựng Đảng về tổ chức:

Kiện toàn hệ thống tổ chức của Đảng gắn liền với việc kiện toàn tổ chức, bộ máy của Nhà nước và các đoàn thể chính trị-xã hội. Giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, tiếp tục thực hiện cuộc vận động xây dựng và chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2). Mỗi cấp uỷ, mỗi cán bộ đảng viên phải nêu cao tinh thần tự phê bình và phê bình, thấy rõ sai phạm khuyết điểm, tiếp thu chân thành, sửa chữa tích cực, xây dựng đoàn kết nội bộ, lấy xây là chính, đi đôi với chỉnh đốn đưa công tác xây dựng Đảng thường xuyên vào nề nếp.

Tiếp tục đẩy mạnh phong trào xây dựng cơ sở Đảng trong sạch vững mạnh, tập trung giải quyết cơ sở yếu kém, phấn đấu hàng năm có trên 75% cơ sở Đảng đạt trong sạch vững mạnh.

Các cấp uỷ và tổ chức Đảng nắm vững và thực hiện đúng các quan điểm của Đảng về công tác cán bộ. Thông qua hoạt động thực tiễn và phong trào cách mạng của nhân dân, nâng cao trình độ dân trí để tuyển chọn, giáo dục, rèn luyện, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ.

Từng bước thực hiện chiến lược cán bộ. Có quy mô đào tạo, bồi dưỡng cán bộ gắn với nhu cầu sử dụng. Mỗi cấp uỷ phải chăm lo, thống nhất quản lý cán bộ trong hệ thống chính trị tại địa phương theo nguyên tắc tập trung dân chủ, đồng thời phát huy trách nhiệm của các tổ chức và người đứng đầu. Có chính sách tập hợp rộng rãi các loại cán bộ, phát hiện bồi dưỡng, trọng dụng những người có đức, có tài trong và ngoài Đảng.

Có kế hoạch trẻ hoá cán bộ đảm bảo tính liên tục và phát triển của Đảng. Đào tạo bồi dưỡng cán bộ toàn diện cả phẩm chất, năng lực cả cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý, các nhà doanh nghiệp, chuyên gia đầu ngành.

Đổi mới phương pháp đánh giá cán bộ; lấy kết quả công việc làm thước đo chính, bố trí cán bộ phải dân chủ, khách quan, công tâm. Thực hiện nghiêm các quy định, quyết định về đánh giá, bổ nhiệm, quản lý và tiếp nhận cán bộ.

Trên cơ sở quán triệt các quan điểm nêu trên, xây dựng cho được đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu mới, trước hết là đội ngũ cán bộ Đảng, chính quyền các cấp, đặc biệt là đội ngũ cán bộ chủ chốt của tỉnh, các ngành, các huyện, thị xã, cơ sở có bản lĩnh chính trị vững vàng, có phẩm chất đạo đức tốt, có năng lực lãnh đạo.

3- Tăng cường công tác kiểm tra của Đảng:

Công tác kiểm tra của Đảng là nhiệm vụ của toàn Đảng bộ, là trách nhiệm và thẩm quyền của cấp uỷ, Uỷ ban kiểm tra các cấp. Công tác kiểm tra phải chủ động, thường xuyên có chương trình, kế hoạch cụ thể.

Thực hiện củng cố Đảng về tổ chức, mở rộng dân chủ. Tăng cường kỷ luật, cương quyết, kịp thời xử lý theo kỷ luật Đảng và pháp luật Nhà nước những cán bộ đảng viên sai phạm rõ ràng, những tổ chức Đảng sai phạm, mất đoàn kết. Phải hết sức coi trọng và tăng cường kiểm tra việc ban hành, thực hiện Nghị quyết, Chỉ thị, Quyết định để không ngừng nâng cao hiệu lực chỉ đạo của các tổ chức Đảng; đi sâu kiểm tra đảng viên và tổ chức Đảng có dấu hiệu vi phạm, kiểm tra việc xây dựng và thực hiện quy chế làm việc, giữ gìn nguyên tắc tổ chức sinh hoạt đảng.

Các cấp uỷ và tổ chức Đảng lãnh đạo và kiểm tra việc thực hiện Pháp lệnh công chức, các quy định về những điều đảng viên và công chức không được làm, các quy chế dân chủ ở cơ sở, công khai hoá thu, chi tài chính ở các đơn vị, cơ sở. Nâng cao vai trò của Chi bộ trong công tác giáo dục, quản lý đảng viên, tổ chức, hướng dẫn nhân dân giám sát việc thực hiện nhiệm vụ, tư cách cán bộ, đảng viên, kịp thời kiểm tra cán bộ đảng viên lợi dụng chức quyền tham nhũng, làm giầu phi pháp, xử lý nghiêm minh những trường hợp sai phạm.

4- Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân:

Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội là một nội dung trọng yếu trong nhiệm vụ của các cấp uỷ Đảng nhằm hoàn thiện cơ chế "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”, để nâng cao hiệu quả lãnh đạo của Đảng, phát huy đầy đủ hiệu lực quản lý, điều hành của các cơ quan Nhà nước, thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn được giao.

Thực hiện đúng chế độ tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách trong các cấp uỷ và tổ chức Đảng từ tỉnh đến chi bộ. Những vấn đề quan trọng về đường lối chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, những vấn đề về tổ chức và cán bộ phải do tập thể cấp uỷ, Ban cán sự Đảng, Đảng đoàn thảo luận dân chủ, biểu quyết và ra nghị quyết theo đa số. Từng Đảng bộ chủ động ngăn chặn tình trạng không đoàn kết, thiếu thống nhất trong tập thể lãnh đạo, vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ.

Đổi mới quy trình xây dựng, quán triệt và tổ chức thực hiện Nghị quyết theo hướng thiết thực, phân rõ trách nhiệm, quy định thời gian hoàn thành, định kỳ kiểm tra đánh giá, sơ kết, tổng kết. Giảm bớt hội nghị để cán bộ lãnh đạo dành thời gian chỉ đạo, kiểm tra việc thực hiện Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng và Nhà nước.

Xây dựng, hoàn thiện quy chế làm việc của cấp uỷ. Xác định rõ hơn chức năng nhiệm vụ, nội dung, phương thức hoạt động của từng Ban Đảng, chỉ đạo phối hợp đồng bộ giữa các Ban.

Thường xuyên giữ mối quan hệ mật thiết với nhân dân, xây dựng các chủ trương chính sách hợp lòng dân, chăm lo bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân. Cán bộ đảng viên làm tốt công tác dân vận; tạo điều kiện thuận lợi để nhân dân góp ý xây dựng các Nghị quyết của Đảng và pháp luật của Nhà nước, phê bình cán bộ đảng viên. Đảng lãnh đạo cơ quan, cán bộ có thẩm quyền giải quyết tốt các khiếu nại, tố cáo của công dân.

5- Nâng cao trình độ tổ chức và chỉ đạo thực hiện các nghị quyết, chủ trương của Đảng và pháp luật của Nhà nước:

Các cấp uỷ và tổ chức Đảng lãnh đạo việc khẩn trương cụ thể hoá và tổ chức thực hiện các nghị quyết của Đảng và pháp luật của Nhà nước phù hợp với từng ngành, từng địa phương. Thực hiện nguyên tắc mọi nhiệm vụ đều phải có địa chỉ, đều có người chịu trách nhiệm chính, gắn việc đánh giá thực hiện kết quả nhiệm vụ với việc đánh giá bố trí, đề bạt, khen thưởng, kỷ luật cán bộ. Khắc phục tình trạng chậm trễ, nửa vời.

Căn cứ vào quy định của Điều lệ Đảng và pháp luật của Nhà nước, các cấp, các ngành xây dựng và thực hiện tốt chế độ trách nhiệm lãnh đạo và quản lý của tập thể và cá nhân, chế độ phối hợp công tác.

Tăng cường công tác kiểm tra của Đảng, lãnh đạo việc đổi mới và tăng cường công tác thanh tra Nhà nước và các cơ quan hành pháp, công tác giám sát của Hội đồng nhân dân và các đoàn thể theo đúng chức năng, thẩm quyền. Qua kiểm tra thanh tra đề xuất bổ sung chủ trương, giải pháp để thực hiện các nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước đạt kết quả cao hơn.

                                  *

                            *          *

Tuy còn nhiều khó khăn thách thức, với những thành tựu quan trọng đã đạt được bốn năm qua; làm cho tiềm lực được tăng cường, vị thế trong khu vực và cả nước được khẳng định, nắm bắt cơ hội và lợi thế, Đảng bộ và nhân dân Hưng Yên đoàn kết, nhất trí quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV.

BAN CHẤP HÀNH ĐẢNG BỘ TỈNH

Tổng số trang1-20 (of 55)
Page:1 - 2 - 3.  Trước · Tiếp